- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM Bản án số: 101/2017/HSST |
Ngày 19 tháng 7 năm 2017
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ – TỈNH HÀ NAM
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cảnh.
- Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Chi và ông Lê Chí Trung.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợp – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 tại Hà Nam; Trú tại: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1945 và bà Đoàn Thị L, sinh năm 1944; Vợ; con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ: Từ 12/4/2017 đến ngày 20/4/2017 được tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Văn T, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn L, xã T huyện L, tỉnh Hà Nam.Có mặt.
NhËn"thÊy
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trong quá trình làm việc tại Công ty TNHH Kang Yin thuộc khu công nghiệp C, phường C, thành phố P thì Nguyễn Văn C quen biết và nảy sinh T cảm với chị Nguyễn Thị T cùng là công nhân của công ty. Do có một vài lần để chung đồ với chị T nên C biết chị T sử dụng ngăn tủ E69 và thường để điện thoại vào đó khi làm việc.
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/4/2017, C đến công ty để làm ca đêm. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/4/2017, C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của chị T nên C xin ra ngoài và đi vào phòng thay đồ nữ của công ty thấy không có ai, ngăn tủ E69 của chị T đang khóa. C dùng tay phải bám vào phần tai móc của ngăn tủ giật mạnh nhưng bị trượt, C tiếp tục lấy chiếc móc treo chìa khóa của mình, dùng phần móc quặc vào tai móc của ngăn tủ rồi dùng tay phải giật mạnh làm cánh cửa tủ bật tung ra rồi trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 5S của chị T mang cất ở ô thoáng của nhà vệ sinh nam, sau đó quay trở lại làm việc.
Đến khoảng 4 giờ cùng ngày, C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của anh Đào Văn T là người làm cùng công ty với C nên C đi đến phòng thay đồ của công nhân nam thấy không có ai, C tiến lại tủ đồ C10 của anh T bên cạnh tủ đồ cá nhân của C rồi dùng chiếc móc treo chìa khóa móc vào phần tai móc ngăn tủ và giật mạnh nhưng cánh tủ không bị bung ra mà bị cong vênh phần trên. C dùng tay phải bám vào phần trên cánh tủ kéo về phía mình thì nhìn thấy chiếc điện thoại Iphone 5 của anh T. C dùng tay trái thò vào bên trong ngăn tủ lấy chiếc điện thoại đó rồi mang đến cất cùng vị trí với chiếc điện thoại của chị T. Đến 7 giờ 30 phút cùng ngày khi hết giờ làm việc. C quay lại phòng vệ sinh nam lấy chiếc điện thoại của chị T rồi tháo sim ra bỏ vào túi quần còn chiếc điện thoại C vẫn cất ở chỗ cũ.
Sau khi hết giờ làm việc, chị T và anh T đến tủ đồ của mình phát hiện bị mất trộm điện thoại nên đã trình báo Công an phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý.
Ngày 11/4/2017, Nguyễn Văn C đã đến Công an phường C, thành phố P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ gồm:
-Thu giữ của Nguyễn Văn C: 01 điện thoại Samsung Galaxy J7; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius màu trắng đen không biển kiểm soát; 01 ví giả da màu nâu; 01 giấy phép lái xe hạng A1 cấp ngày 10/4/2013, 01 thẻ ATM Sacombank, 01 tờ hóa đơn bán hàng của công ty TNHH Nam Hạnh đều mang tên Nguyễn Văn C; 01 móc đeo chìa khóa bằng kim loại trong có 02 chiếc chìa khóa; 01 thẻ sim điện thoại số thuê bao 01686453352 và số tiền 700.000đ.
- 01 điện thoại Iphone 5S; 01 điện thoại Iphone 5 mà C đã trộm cắp của chị T và anh T.
Ngày 13/4/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phủ Lý có Quyết định số 54 trưng cầu Hội đồng định giá thành phố Phủ Lý định giá: 01 chiếc điện thoại Iphone 5S màu đen và 01 chiếc điện thoại Iphone 5 màu trắng mà Nguyễn Văn C đã trộm cắp.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/HĐ- ĐGTS ngày 18/4/2017, của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone 5S màu đen đã qua sử dụng trị giá còn 2.600.000đ; 01 chiếc điện thoại Iphone 5 màu trắng đã qua sử dụng trị giá còn 1.900.000đ
Tại bản cáo trạng số 102/KSĐT ngày 28 tháng 6 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Nguyễn Văn C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: giữ nguyên quan điểm buộc tội đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì đối với vụ án. Sau khi đánh giá toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã mô tả và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có ý kiến tài sản là chiếc điện thoại mà bị cáo trộm cắp đã được cơ quan CSĐT trả lại và không có ý kiến gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lêi khai cña bÞ c¸o t¹i phiªn tßa h«m nay lµ hoµn toµn phï hîp víi lêi khai cña bÞ c¸o trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra vô ¸n. Héi ®ång xÐt xö thÊy c¬ b¶n phï hîp víi nhau, phï hîp víi lêi khai cña ngêi bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, b¶n kÕt luËn cña c¬ quan chuyªn m«n còng nh c¸c tµi liÖu, chøng cø kh¸c cã trong hå s¬ vô ¸n. Nh vËy cã ®ñ c¬ së ®Ó kÕt luËn:
Khoảng 02 giờ ngày 11/4/2017, tại công ty TNHH Kang Yin ở khu công nghiệp Châu Sơn, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản Nguyễn Văn C đã dùng móc chìa khóa cậy tủ cá nhân, lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 5S trị giá 2.600.000đ của chị Nguyễn Thị T.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng tới trật tự trị an tại địa bàn. Điều này gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc bảo quản tài sản. Hành vi của C còn thể hiện sự liều lĩnh, táo tợn, coi thường pháp luật khi trộm cắp tài sản của chính người làm cùng công ty. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải ra bản án nghiêm khắc, tương ứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện và có tác dụng phòng ngừa chung trong cộng đồng.
Trong lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn nên xét cho bị cáo được hưởng T tiết giảm nhẹ quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có bố Nguyễn Văn Vân là bệnh binh, được tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong , sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ nêu trên xét nhân thân thấy bị cáo là người có nhân thân tốt có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải.
* Trách nhiệm dân sự: Đối với 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S cùng 01 thẻ sim điện thoại có số 01686453352 và 01 điện thoại Iphone 5 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T và anh Đào Văn T. Ngày 23,24/5/2017 cơ quan CSĐT – Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại tài sản cho chị T và anh T. Chị T, anh T đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu Nguyễn Văn C phải bồi thường dân sự nên HĐXX không đề cập.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 móc đeo chìa khóa bằng kim loại kích thước dài 4,3 cm, phần rộng nhất 02 cm có một khoong đeo chìa khóa, trên khoong có 01 chìa khóa kiểu chìa khóa xe máy có chữ Yamaha và 01 chìa khóa bằng kim loại có in chữ Viet Đai là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen không biển kiểm soát; 01 ví giả da màu nâu; 01 điện thoại Samsung galaxy J7; 01 giấy phép lái xe hạng A1 cấp ngày 10/4/2013; 01 thẻ ATM của ngân hàng Sacombank và 01 tờ hóa đơn bán hàng của Công ty TNHH Nam Hạnh đều mang tên Nguyễn Văn C; số tiền 700.000đ là tài sản hợp pháp của C không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 17/5/2017, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại cho Nguyễn Văn C là hoàn toàn phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi Nguyễn Văn C trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 5 trị giá 1.900.000đ của anh Đào Văn T có giá trị tài sản dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân C chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích do đó Công an thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi này của C là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Nguyễn Văn C 06 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao Nguyễn Văn C cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
2/ Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 móc đeo chìa khóa bằng kim loại kích thước dài 4,3 cm, phần rộng nhất 02 cm có một khong đeo chìa khóa, trên khong có 01 chìa khóa kiểu chìa khóa xe máy có chữ Yamaha và 01 chìa khóa bằng kim loại có in chữ Viet Đai.
(Các vật chứng có đặc điểm, T trạng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/7/2017 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam).
4/ Căn cứ Điều 99, 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi!nhận:!
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Hà Nam;
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Phủ Lý;
- Công an thành phố Phủ Lý;
- Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý;
- Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa
Trần Văn Cảnh vụ liên quan;
- Lưu.