- Tranh chấp gì? "Mã Văn S"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S; sinh ngày 18/6/1997; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang.
- Căn cứ chính? Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy; LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY SỐ 120/2025/QH15; Điều 100 Quyết định số 163/2026/QĐ-UBND Quy định tiêu chí dự án phát…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 10/QĐ - TA | Tuyên Quang, ngày 18 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TUYÊN QUANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Tô Đình V.
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Hồng Tươi.
Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tuyên Quang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 10/QĐ-TA ngày 12 tháng 8 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Mã Văn S; giới tính: Nam; sinh ngày 18/6/1997; căn cước công dân số 002097008522 cấp ngày 25/9/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; tiền án: Không; tiền sự: Không; Con ông Mã Văn T và bà Đoạn Thị T1. Vắng mặt tại phiên họp (Có đơn xin vắng mặt).
Có sự tham gia của:
1. Người đề nghị: Ông Mã Mạnh T2 - Trưởng Công an xã Đ, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).
Người được ủy quyền: Ông Triệu Đức T3 - Phó Trưởng Công an xã Đ, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Tuyên Quang: Ông Hà Quốc Hưng - Kiểm sát viên (Có mặt).
NHẬN THẤY
Ngày 24/7/2026 Công an xã Đ tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Mã Văn S để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; phiếu xét nghiệm chất ma túy kết quả Mã Văn S dương tính chất ma túy. Cùng ngày Mã Văn S tự nguyện đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy, Trạm y tế xã Đ thực hiện việc xác định tình trạng nghiện ma túy theo đề nghị của Mã Văn S.
Ngày 25/7/2026, Trưởng Công an xã Đ ban hành Quyết định số 25/QĐ-CAX, áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Mã Văn S.
Ngày 27/7/2026 Phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã Đ, tỉnh Tuyên Quang xác định tình trạng nghiện Mã Văn S có nghiện ma túy, loại ma túy Heroine.
Ngày 27/7/2026 Công an xã Đ gửi cho Mã Văn S kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy và đã giải thích rõ trong 24 giờ kể từ khi nhận được thông báo phải đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế tại Công an xã Đ, tỉnh Tuyên Quang, nếu sau 24 giờ không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế hoặc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện thì cơ quan công an sẽ lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống ma túy năm 2025 nhưng Mã Văn S có đơn không tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế. Cùng ngày Công an xã Đ ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 27/QĐ-CAX đối với Mã Văn S.
Ngày 28/7/2026 Công an xã Đ lập biên bản vi phạm đối với Mã Văn S về hành vi không đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy, không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế. Cùng ngày Công an xã Đ thực hiện lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S.
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai S đã thừa nhận ngày 22/7/2026 S được người bạn tên T4 cho ma túy Heroine để sử dụng, sau khi nhận được ma túy thì S đem về nhà sử dụng một mình bằng hình thức hít; bản thân S sử dụng ma túy Heroine từ khoảng tháng 11 năm 2024, hình thức sử dụng: Hít, tần suất sử dụng: 02 đến 03 lần/ngày; lần sử dụng gần nhất: ngày 22/7/2026.
Ngày 28/7/2026 Công an xã Đ thông báo số 02/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S. Cùng ngày Công an xã Đ ra Quyết định số 29/QĐ-CAX về việc giao người nghiện ma túy để quản lý trong thời gian lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc và giao Mã Văn S cho Cơ sở Cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang quản lý.
Tại Đề nghị số 14/ĐN-CAX ngày 28/7/2026 của Trưởng Công an xã Đ, tỉnh Tuyên Quang, đề nghị xem xét hồ sơ áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S.
Ngày 17/8/2026 Mã Văn S có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp và đề nghị được cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.
Đại diện Công an xã Đ nơi lập hồ sơ ý kiến: Đối với Mã Văn S là người nghiện ma túy Heroine đã sử dụng ma túy từ tháng 11/2024, ở địa phương không chấp hành nghĩa vụ công dân nơi cư trú, đã từng bị Công an xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng vào ngày 20/5/2022. Nay đề nghị đưa Mã Văn S đi cai nghiện ma túy bắt buộc thời hạn 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng quy định. Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, năm 2025; Điều 29, điểm a, c khoản 1 Điều 35, Điều 37, Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15; khoản 2 Điều 20, Điều 21, Điều 24, Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (hợp nhất tại Điều 3, Điều 8, Điều 12, Điều 17, khoản 2 Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH, ngày 25/6/2026) về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao; Điều 100, Điều 101, Điều 102, Điều 106, Điều 107 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Điều 3, Điều 4 của Nghị định 166/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 - Tuyên Quang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S, thời hạn là 24 tháng, kể từ ngày 28/7/2026.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, ý kiến của người đề nghị và ý kiến của Viện kiểm sát nhân khu vực 7 - Tuyên Quang có đủ căn cứ xác định.
. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 95; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, năm 2025; Điều 35 Luật, phòng chống ma túy năm 2025; Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH ngày 25/6/2026 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy; Nghị định 166/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ Mã Văn S tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai đã thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2024, hình thức đốt hít, lần gần nhất ngày 22/7/2026. Mã Văn S là người nghiện ma túy đã được thông báo về kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy nhưng không đăng ký tự nguyện cai nghiện ma túy, không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế … đã vi phạm điểm a, điểm c khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống ma túy năm 2025 và Nghị định 163/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống ma túy. Vì vậy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S là phù hợp theo quy định tại Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
. Về tình tiết tăng nặng: Không.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.
. Xét về nhân thân: Mã Văn S không có tiền án, tiền sự nhưng có nhận thân xấu, là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức việc sử dụng trái phép chất ma túy là có hại cho sức khỏe con người, nhưng vẫn cố tình sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến nghiện nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện/ không đăng ký điều trị bằng thuốc thay thế …. Vì vậy, việc áp dụng xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc với Mã Văn S là cần thiết, nhằm giúp Mã Văn S cai nghiện ma túy, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện ma túy công lập.
. Tại phiên họp đại diện người đề nghị và Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 9, Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020, năm 2025; Điều 29, điểm a, c khoản 1 Điều 35, Điều 37, Điều 38, khoản 3 Điều 54 của Luật Phòng, chống ma túy số 120/2025/QH15; khoản 2 Điều 20, Điều 21, Điều 24, Điều 30, Điều 31 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (hợp nhất tại Điều 3, Điều 8, Điều 12, Điều 17, khoản 2 Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 Văn bản hợp nhất số 119/VBHN-VPQH, ngày 25/6/2026) về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao; Điều 100, Điều 101, Điều 102, Điều 106, Điều 107 Nghị định số 163/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy; Điều 3, Điều 4 của Nghị định 166/2026/NĐ-CP, ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định hồ sơ, trình tự xác định tình trạng nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với Mã Văn S; sinh ngày 18/6/1997; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Tuyên Quang.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày 28/7/2026.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định:
Mã Văn S vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Trưởng Công an xã Đ, tỉnh Tuyên Quang có quyền kiến nghị quyết định thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Tuyên Quang có quyền kháng nghị quyết định thời hạn 03 (Ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Đ phối hợp cùng Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và thông báo cho Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Tuyên Quang kết quả thi hành Quyết định./.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Trưởng Công an xã Đường Hồng; - Giám đốc Công an tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 7 - Tuyên Quang; - Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã Đường Hồng; - Phòng PV06 Công an tỉnh Tuyên Quang; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Tô Đình Vĩ |