- Tranh chấp gì? Các tranh chấp khác — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng B - Phạm Văn N"
- Tòa quyết gì? I. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP B và chị Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án kinh doanh sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên, c thể:
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/KDTM-PT Ngày 04/6/2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Phượng
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026 tại Tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai v án kinh doanh thơng mại phúc thẩm th lý số: 24/2025/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 12 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu” Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên bị kháng cáo, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (gọi tắt là Ngân hàng B).
Đại diện theo pháp luật: Bà T - Chức v : Tổng giám đốc.
Địa chỉ: Số 117, đường Quang Trung, phường Q, thành phố V, tỉnh N
Nay là số 117, đường Q, phường T, tỉnh N.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Như M: Giám đốc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh H (vắng mặt).
- Ông Trần Văn Lh - Chức v : Phó giám đốc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh H. Địa chỉ: Số 479, đường N, phường A, thành phố H, tỉnh Hn. Nay là phường P, tỉnh Hưng Yên (vắng mặt).
- Ông Lê Đức H – Phó phòng quản lý nợ Công ty TNHH quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP B. Địa chỉ: Số 67 N, phường Y, Hà Nội (có mặt).
- Bà Hoàng Thị T – Chuyên viên xử lý nợ Công ty TNHH quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng TMCP B. Địa chỉ: Số 242, tổ 2, phường K, Hà Nội (có mặt).
- Ông Vũ Trung Kiên – Trư ng phòng Kinh doanh – Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh Hưng Yên (vắng mặt); (Giấy ủy quyền số 174/2025/UQ-TGĐ ngày 15/9/2025 của Tổng giám đốc Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng TMCP B).
2. Đồng bị đơn:
2.1 Anh Phạm Văn N, sinh năm 1986 (vắng mặt).
2.2 Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn T H, xã CN, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Nay là thôn T H, xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Trần Đức L, sinh năm 1955 (có mặt).
3.2 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959 (có mặt).
Đều trú tại: thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn D, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông L, bà H: Luật sư Nguyễn Hùng P
- Văn phòng Luật sư P, Đoàn Luật sư tỉnh Hưng Yên. Địa chỉ: Số 35, Đường N, phường Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Nay là số 35 đường Nh, phường P, tỉnh Hưng Yên (có mặt)
3.3 Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1961 (vắng mặt).
3.4 Chị Trần Thị T, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Thôn D, xã H, tỉnh Hưng Yên.
3.5 Chị Vũ Thị B, sinh năm 1988 (vắng mặt).
3.6 Anh Nguyễn Thọ L, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Đều có địa chỉ: Số nhà 438 khu Hh, xã H, tỉnh Hưng Yên.
Ông Lập, bà Thủy hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Hưng Yên.
3.7 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hưng Yên.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc T - Chức vu: Giám đốc.
Địa chỉ: Số 70, đường A, phường P, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Quách Thị C - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Khu vực T. ( có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên.
3.8 Văn phòng Công chứng V
Đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Khắc A – Trư ng Văn phòng.
Địa chỉ: xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên .( có đơn xin vắng mặt)
Do có kháng cáo của Ngân hàng TMCP B và chị Nguyễn Thị H
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Do cần tiền bổ sung vốn kinh doanh chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N có ký hợp đ ng tín d ng số 0000382312/2023/HĐTD-BACABANK ngày 24/02/2023 với Ngân hàng B – Chi nhánh Hưng Yên để vay số tiền 900.000.000 đ ng (Chín trăm triệu đ ng); thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày 25/02/2023 đến hết ngày 24/02/2024, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đ ng là 14,1%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp d ng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; mức phạt chậm trả lãi bằng 10%/năm trên số tiền lãi chậm trả. Việc giải ngân được thực hiện theo Khế ước nhận nợ số 01 – 000382312/2023/HĐTD-BACABANK, ngày 24/02/2023, số tiền vay 900.000.000 đ ng được chuyển theo yêu cầu của chị Huệ, anh Nam vào tài khoản số 2410215017949 tại Ngân hàng Agrribank - Chi nhánh T của bà Vũ Thị L1. Để bảo đảm cho nghĩa v trả nợ, ngày 24/02/2023 chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N có ký Hợp đ ng thế chấp quyền sử d ng đất số 0000382312/2023/HĐTD-BACABANK với Ngân hàng B- Chi nhánh Hưng Yên thế chấp quyền sử d ng đất thuộc thửa số 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,7m2 tại thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên), ngày 24/7/2014 UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận Quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BT710616 mang tên ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H, ngày 24/02/2023 đã đăng ký việc chuyển nhượng cho chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N. Hợp đ ng tín d ng và Hợp đ ng thế chấp do cả hai vợ ch ng chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N ký, đã được công chứng, đăng ký bảo đảm đúng theo quy định. Ngoài ra Hợp đ ng tín d ng và Hợp đ ng thế chấp còn thoả thuận một số nội dung liên quan. Quá trình thực hiện hợp đ ng mặc dù đã nhiều lần đôn đốc nhưng chị Huệ, anh Nam không trả gốc, lãi đầy đủ. Ngân hàng B kh i kiện yêu cầu chị Huệ và anh Nam phải trả cho Ngân hàng B tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2025 là 1.167.910.155 đ ng, trong đó nợ gốc là 900.000.000 đ ng, lãi trong hạn 8.895.564 đ ng, lãi quá hạn 257.605.890 đ ng, lãi phạt quá hạn 1.408.701 đ ng. Bị đơn còn phải tiếp t c trả lãi, lãi nợ quá hạn cho Ngân hàng theo mức lãi suất như đã thoả thuận trong hợp đ ng tín d ng cho đến khi thanh toán hết số nợ đối với Ngân hàng B. Trường hợp chị Huệ, anh Nam không thực hiện đầy đủ nghĩa v trả nợ, Ngân hàng B có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, để phát mại tài sản thế chấp nêu trên. Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì chị Huệ, anh Nam vẫn phải tiếp t c thực hiện nghĩa v trả nợ cho Ngân hàng B cho đến khi tất toán khoản vay. Đối với quan điểm của chị Huệ, anh Nam về việc anh, chị đứng ra vay hộ chị Trần Thị Thủy, sinh năm 1989, địa chỉ thôn Dị Chế, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên. Đây là thỏa thuận và giao dịch riêng giữa chị Huệ, anh Nam với chị T1 không liên quan đến Ngân hàng nên Ngân hàng không chịu trách nhiệm. Nghĩa v trả nợ cho Ngân hàng thuộc về chị Huệ, anh Nam.
Nguyên đơn đề nghị công nhận Hợp đ ng thế chấp có hiệu lực nên không nhất trí yêu cầu của ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H về việc hủy các Hợp đ ng chuyển nhượng; hủy phần đăng ký biên động trên Giấy chứng nhận và tuyên hủy Hợp đ ng thế chấp.
Quá trình tham gia tụng bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị là vợ anh Phạm Văn N và là em con chú ruột anh Nguyễn Thọ L2, chị quen biết với chị Trần Thị Thủy qua anh Lập, hiện anh Lập, chị T1 đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 01 Công an tỉnh Hưng Yên. Do vợ ch ng chị có cho anh L2vay số tiền lớn và vợ ch ng chị có chuyển cho chị T1 tiền để mua đất nhưng anh L2không trả được tiền và chị T1 không chuyển nhượng đất cho vợ ch ng chị nên anh L2và chị T1 có nhờ vợ ch ng chị đứng ra vay tiền của Ngân hàng B - chi nhánh Hưng Yên. Thực hiện theo thỏa thuận trên, ngày 24/02/2023, vợ ch ng chị có ký Hợp đ ng tín d ng với Ngân hàng B - Chi nhánh Hưng Yên để vay 900.000.000 đ ng (chín trăm triệu đồng), m c đích vay bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất cơ s là 10,8%/năm, biên độ lãi là 3,3%/năm, lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đ ng là 14,1%/năm nhưng lãi suất c thể sẽ biến động theo từng khế ước cho vay. Theo khế ước nhận nợ ngày 24/02/2023 mà vợ ch ng chị đã ký, số tiền vay là 900.000.000 đ ng đã được chuyển cho bà Vũ Thị L1 (sau này chị mới được biết bà L1 là mẹ vợ anh Lập). Toàn bộ số gốc, lãi chị chưa trả cho Ngân hàng lần nào, còn nếu trả là do anh L2hoặc chị T1 trả, chị không rõ. Để đảm bảo cho số tiền vay, ngày 24/02/2023 vợ ch ng chị có ký Hợp đ ng với Ngân hàng B để thế chấp quyền sử d ng thửa đất số 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,7 m2, tại thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên), Giấy chứng nhận quyền sử d ng mang tên ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H nhưng đã được xác nhận việc chuyển nhượng và đăng ký mang tên vợ ch ng chị. Chị khẳng định vợ ch ng chị là người ký Hợp đ ng tín d ng; Khế ước nhận nợ; Hợp đ ng thế chấp tài sản như bản sao mà Cán bộ Tòa án đã đưa cho bà kiểm tra. Nay Ngân hàng B yêu cầu vợ ch ng chị phải trả số tiền nợ gốc là 900.000.000 đ ng cùng số lãi phát sinh. Chị nhất trí còn nợ Ngân hàng B nhưng do vợ ch ng chị đang gặp khó khăn nên chị đề nghị Ngân hàng cho phát mại tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa v trả nợ.
Đối với yêu cầu của ông L, bà H về việc huỷ Hợp đ ng chuyển nhượng, huỷ đăng ký biến động trên giấy chứng nhận đối với chị và anh Nam, chị không nhất trí vì chị không biết ông L, bà H là ai, chị chỉ biết do chị T1 và anh L2nhờ chị đứng ra làm thủ t c chuyển nhượng với anh Lập, chị H ng là để vay tiền của Ngân hàng B hộ chị T1. Chị đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng anh N trình bày: Anh là ch ng chị Huệ, về việc kh i kiện của Ngân hàng và yêu cầu của ông L, bà H anh có quan điểm: việc giao dịch vay tiền và chuyển nhượng đất đều do chị Huệ trực tiếp làm, anh chỉ ký vào các văn bản liên quan, vì vậy anh nhất trí với trình bày và quan điểm của chị Huệ đưa ra tại Tòa án.
Quá trình tham gia tố tụng, ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H có cùng quan điểm trình bày: Ông là bác ruột của chị Trần Thị Thủy. Xuất phát từ quan hệ gia đình nên năm 2022, chị T1 có đến nói chuyện để mượn của ông, bà sổ đỏ để vay tiền, đến khi nào ông, bà sửa nhà thì chị T1 trả, lúc đầu ông bà không đ ng ý mà để ông bà vay r i cho chị T1 vay lại, nhưng do ông bà vay được ít nên chị T1 nói để chị T1 mượn bìa đỏ đi vay thì sẽ vay được nhiều hơn, vì quan hệ gia đình và do không hiểu biết và tin tư ng chị T1 nên ông, bà nhất trí, chị T1 hẹn mượn bìa đỏ 03 tháng sau sẽ trả để ông bà còn được hỗ trợ tiền sửa nhà, vì gia đình ông, bà thuộc diện chính sách. Do tin tư ng nên chị T1 bảo ông, bà ký vào các giấy tờ gì thì ông, bà cũng ký, ông, bà không được đọc và cũng không biết nội dung. Sau khi đã hết thời hạn 03 tháng, ông bà yêu cầu trả lại sổ đỏ nhưng chị T1 không trả, sau đó ông bà được UBND xã H gọi đến để ký giấy tờ hỗ trợ chính sách thì ông bà mới biết giấy tờ đất hiện đứng tên người khác và đang thế chấp tại Ngân hàng B – Chi nhánh Hưng Yên để vay số tiền 900.000.000 đ ng, sau khi biết được sự việc, ông bà có đến nhà chị T1 để đòi chị T1 bìa đỏ, chị T1 có viết giấy nhận trả nhưng viện lý do kéo dài không trả. Việc vợ ông, bà ký Giấy chuyển nhượng quyền sử d ng thửa đất sang tên anh Nguyễn Thọ L2 và chị Vũ Thị Bích H ng, sau đó vợ ch ng anh Lập, chị H ng chuyển nhượng cho vợ ch ng anh Nam, chị Huệ để thế cấp Ngân hàng ông, bà không hề được biết, không ai thông báo cho ông, bà biết, ông, bà không quen biết anh Lập, anh Nam, chị Huệ. Bản thân ông, bà không thỏa thuận và cũng không nhận khoản tiền nào từ vợ ch ng anh Lập, chị H ng; anh Nam và chị Huệ. Ngân hàng B cho anh Nam, chị Huệ vay số tiền lớn nhưng gia đình ông, bà đang sinh sống tại mảnh đất lại không gặp gỡ, không hỏi ý kiến ông, bà. Đến nay Ngân hàng B kh i kiện yêu cầu vợ ch ng anh Nam, chị Huệ phải trả nợ nếu không đề nghị phát mại tài sản thế chấp, ông bà không nhất trí việc phát mại tài sản thế chấp. Ông, bà đề nghị Tòa án tuyên các Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông, bà với anh L2và giữa anh Lập, chị H ng với chị Huệ vô hiệu; Tuyên huỷ phần đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất của anh Lập, chị H ng và chị Huệ, anh Nam; Tuyên huỷ Hợp đ ng thế chấp tài sản.
Quá trình tham gia tố tụng chị Trần Thị T trình bày:
Chị là cháu ruột ông L, còn với anh Lập, anh Nam, chị Huệ chỉ là quan hệ bạn bè quen biết. Chị có hỏi mượn ông L, bà H sổ đỏ và có nhờ chuyển nhượng cho anh Lập, chị H ng thửa đất số 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,7m2 tại thôn D xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên của vợ ch ng ông L để vay tiền (Do ch ng chị không có nhà nên không chuyển nhượng sang cho chị được). Sau khi thỏa thuận, ngày 24/10/2023 ông L, bà H đã chuyển nhượng cho anh L2thửa đất trên. Sau đó, chị có nhờ anh L2mang thế chấp để vay 500.000.000 đ ng của Quỹ tín d ng nhân dân Dị Chế, chị Huệ thấy vay được ít nên có nói chuyển nhượng thửa đất trên cho chị Huệ để chị Huệ vay nhiều tiền hơn nên chị yêu cầu vợ ch ng anh L2chuyển nhượng thửa đất trên cho chị Huệ, toàn bộ việc chuyển nhượng thông qua chị, không có việc thỏa thuận với vợ ch ng ông L. Sau đó vợ ch ng chị Huệ đã thế chấp thửa đất này để vay 900.000.000 đ ng của Ngân hàng B, do tài khoản của chị và anh L2không được Ngân hàng B giải ngân nữa nên chị nhờ vợ ch ng chị Huệ chuyển số tiền này vào tài khoản của bà L1 là mẹ vợ anh Lập, sau đó chị nhờ bà L1 chuyển toàn bộ 900.000.000 đ ng cho chị H ng là vợ anh Lập, theo yêu cầu của chị, chị H ng đã chuyển cho chị Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1983 thị trấn Vương 550.000.000 đ ng để trả số tiền chị vay Quỹ tín d ng; chuyển cho anh L2250.000.000 đ ng, anh L2đã chuyển cho chị số tiền này, 80.000.000 đ ng chị H ng chuyển trả hộ chị cho chị Tạ Thị Thịnh K, còn 20.000.000 đ ng chị trả nợ luôn cho chị H ng. Chị khẳng định m c đích chuyển nhượng giữa các bên là để vay tiền, không có việc thanh toán tiền chuyển nhượng và bàn giao tài sản, thực tế ông L, bà H vẫn thường xuyên, liên t c quản lý sử d ng đất và nhà . Khi Ngân hàng B làm thủ nhận thế chấp, vợ ch ng ông L vẫn đang sinh sống trên thửa đất và trong ngôi nhà thuộc s hữu của vợ ch ng ông L nhưng Ngân hàng B không thông báo cho vợ ch ng ông L biết. Sau khi chị Huệ thế chấp tài sản, vợ ch ng ông L biết và yêu cầu nên chị có viết giấy mượn hẹn ngày 05/7/2023 trả lại sổ đỏ cho ông L nhưng do khó khăn nên chị không thực hiện được. Chị xác định chị có liên quan trong việc mượn sổ đỏ của ông L, còn những việc liên quan khác thuộc trách nhiệm của anh Lập, chị H ng, anh Nam và chị Huệ. Do hoàn cảnh thực tế chị xin được vắng mặt trong quá trình xét xử v án.
Quá trình tham gia tố tụng anh Nguyễn Thọ L2 trình bày:
Anh là ch ng chị Vũ Thị Bvà là anh con bác ruột của chị Nguyễn Thị H. Năm 2023, anh không nhờ vợ ch ng chị Huệ vay bất cứ khoản tiền nào. Anh và chị Trần Thị T là bạn xã hội. Sau khi chị T1 hỏi mượn thửa đất tại thôn D, xã H của vợ ch ng ông L, bà H, được ông L, bà H đ ng ý và làm thủ t c chuyển nhượng sang cho vợ ch ng anh để vợ ch ng anh đứng lên vay hộ chị T1 (Anh chỉ đứng tên, không phải bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng, mọi thủ t c đều do chị T1 làm). Ngày 10/02/2023, sau khi làm thủ t c chuyển nhượng và đăng ký quyền sử d ng đất theo quy định, chị T1 nhờ vợ ch ng anh vay 500.000.000 đ ng của Quỹ tín d ng nhân dân Dị Chế, do chị T1 chê ít nên đã thanh toán trả cho Quỹ tín d ng. Sau đó chị T1 yêu cầu vợ ch ng anh làm thủ t c chuyển nhượng thửa đất này cho vợ ch ng anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H, anh Nam, chị Huệ đã được xác nhận đăng ký chủ sử d ng trên Giấy chứng nhận và đã thế chấp để vay của Ngân hàng B 900.000.000 đ ng. Khi vay tiền do Ngân hàng B yêu cầu số tiền phải giải ngân cho người thứ 3 nên vợ ch ng anh Nam, chị Huệ đã chuyển 900.000.000 đ ng vào tài khoản của mẹ vợ anh là bà Vũ Thị L1, theo yêu cầu của chị T1, bà L1 chuyển toàn bộ số tiền này sang cho chị H ng, chị H ng đã chuyển toàn bộ số tiền cho chị T1. Anh xác định không liên quan đến việc vợ ch ng anh Nam, chị Huệ vay tiền. Anh khẳng định việc chuyển nhượng giữa các bên đều qua chị T1, không có sự thỏa thuận với vợ ch ng ông L. Chị H ng không biết mà tham gia ký là do yêu cầu của cơ quan chức năng, còn mọi giao dịch do anh trực tiếp thực hiện. Đối với yêu cầu của ông L, bà H về việc huỷ Hợp đ ng chuyển nhượng, huỷ đăng ký biến động trên giấy chứng nhận đối với anh và chị H ng, anh đề nghị giải quyết theo pháp luật. Anh L2có đơn xin xét xử vắng mặt.
Quá trình tham gia tố tụng chị Vũ Thị Btrình bày:
Quan điểm của chị đúng như anh L2đã trình bày. Thực tế việc chuyển nhượng đất giữa ông L, bà H với anh L2là để thế chấp vay tiền.
Về quá trình chuyển nhượng, vay tiền đúng như anh Lập, chị T1 đã trình bày. Chị khẳng định mọi vấn đến liên quan là do chị T1 nhờ, chị không liên quan đến việc vợ ch ng anh Nam, chị Huệ vay tiền.
Đối với yêu cầu của ông L, bà H về việc huỷ Hợp đ ng chuyển nhượng, huỷ đăng ký biến động trên giấy chứng nhận đối với anh L2và chị, chị đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng bà Vũ Thị L1 trình bày:
Bà là mẹ đẻ chị Vũ Thị Bích H ng, bà không quen biết đối với chị T1, anh Nam và chị Huệ. Bà không biết nội dung ai vay mượn tiền của Ngân hàng B, nhưng bà được chị H ng nhờ chuyển tiền vào số tài khoản của bà là số tài khoản 2410205017949 tại Ngân hàng Agribank, sau khi được Ngân hàng B chuyển tiền, chị H ng đã chuyển toàn bộ 900.000.000 đ ng vào tài khoản của ai bà không biết. Bà khẳng định không sử d ng, không liên quan đến số tiền mà Ngân hàng B đã chuyển cho bà. Bà xin được vắng mặt. Quá trình tham gia tố tụng đại diện Văn phòng Công chứng Vũ An trình bày:
Sau khi nhận phiếu yêu cầu công chứng của anh Nguyễn Thọ L2 và chị Nguyễn Thị H cùng các tài liệu kèm theo, trên cơ s các bên tự nguyện cam kết tại thời điểm ký hợp đ ng các bên hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, các hợp đ ng đều thể hiện số tiền chuyển nhượng các bên thanh toán cho nhau, thể hiện rõ m c đích, nội dung giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tự đọc và đ ng ý nội dung hợp đ ng và đã ký hợp đ ng. Văn phòng có quan điểm việc công chứng các hợp đ ng liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông Trần Đức L, Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Thọ L2, và giữa ông Nguyễn Thọ L2, bà Vũ Thị B với bà Nguyễn Thị H đúng quy định. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng đại diện theo uỷ quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hưng Yên trình bày:
Căn cứ h sơ chuyển nhượng giữa ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Thọ L2, bà Vũ Thị Bvà giữa ông Nguyễn Thọ L2, bà Vũ Thị B với ông Phạm Văn N bà Nguyễn Thị H, cùng các tài liệu liên quan việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất từ ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H sang ông Nguyễn Thọ L2, bà Vũ Thị Bvà từ ông Nguyễn Thọ L2, bà Vũ Thị B sang ông Phạm Văn N bà Nguyễn Thị H đúng trình tự thủ t c.
Đối với yêu cầu của ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H về việc tuyên bố Hợp đ ng chuyển nhượng giữa các bên là vô hiệu và hủy phần đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất đối với ông Lập, bà H ng, ông Nam, bà Huệ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xem xét thẩm định và thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến tài sản thế chấp xác định: Thửa đất số 458, tờ bản đ số 22 có diện tích đo đạc theo hiện trạng là 337,2m2. Các tài sản gắn liền với đất g m: nhà cấp 4 lợp ngói 04 gian, xây năm 1988, diện tích 61,4m2, 01 bếp lợp Proximang diện tích 37,1m2, 01 bếp lợp Proximang diện tích 12,9m2; 01 bể nước 7,5m3; 01 nhà vệ sinh diện tích 3m2; Sân gạch bê tông diện tích 85,5m2; Sân gạch đỏ diện tích 59,4m2; Sân bê tông diện tích 20,5m2; Tường gạch dài 3,36m, cao 1,9m; Tường gạch dài 3,65m, cao 1,45m; Tường hoa dài 19,7m cao 0,90m.
Quá trình giải quyết, ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H có đơn tố cáo chị Trần Thị Thủy, anh Nguyễn Thọ L2 và chị Vũ Thị B có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thửa đất 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,70m2 tại xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên xác định v việc là mối quan hệ dân sự.
Tại bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 24/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP B:
Buộc anh Phạm Văn N, chị Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng số tiền 1.167.910.155 đ ng, trong đó nợ gốc 900.000.000 đ ng, lãi trong hạn 8.895.564 đ ng, lãi quá hạn 257.605.890 đ ng, lãi chậm trả 1.408.701 đ ng.
Anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp t c trả lãi đối với khoản nợ chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử đến khi thanh toán hết khoản vay, theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đ ng tín d ng.
Không chấp nhận yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đ ng thế chấp của Ngân hàng TMCP B.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Đức L, Bà Nguyễn Thị H:
+ Tuyên Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 08/02/2023 giữa ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Thọ L2 và ngày 22/02/2023 giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H vô hiệu;
+ Tuyên huỷ phần đăng ký biến động ngày 10/02/2023 mang tên Nguyễn Thọ L2, Vũ Thị Bvà ngày 24/02/2023 mang tên Nguyễn Thị H, Phạm Văn N trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H.
+ Tuyên Hợp đ ng thế chấp tài sản số 0000382312/2023/HĐTC – BACABANK ngày 24/02/2023 giữa Ngân hàng B và chị Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn N vô hiệu.
Buộc Ngân hàng B trả lại ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H
Ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm thực hiện thủ t c đăng ký về quyền sử d ng đất theo quy định pháp luật.
Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xóa đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất liên quan đến anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bích H ng, chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chỉ phí tố t ng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2025 Ngân hàng B kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Ngày 25/9/2025 chị Nguyễn Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại vì đã có vi phạm nghiêm trọng về tố t ng và nội dung
Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Ngân hàng B, chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Chị Nguyễn Thị H trình bày: Việc thế chấp tài sản giữa vợ ch ng chị và Ngân hàng B là đúng quy định vì chị T1 trình bày là đất của bên ngoại của chị T1 để lại cho chị T1, toàn bộ thủ t c chuyển tên sang vợ ch ng anh chị đều do chị T1 làm và thủ t c vay vốn với Ngân hàng B là do chị T1, anh L2 làm, vợ ch ng anh chị đứng lên vay là để chị T1, anh L2 trả tiền đã cầm của anh chị, tại thời điểm đó chị T1 còn nợ anh chị khoảng 6 tỷ đ ng. Thực tế chị có dẫn cán bộ ngân hàng đến nhà đất để thẩm định nhưng không gặp ai, chị không biết tài sản thế chấp là của ông L, bà H vì chị không trực tiếp thỏa thuận việc mua bán nhà đất, trả tiền và giao nhận nhà, chị đề nghị Tòa án công nhận hợp đ ng thế chấp có hiệu lực để trừ vào khoản nợ của vợ ch ng chị.
Đại diện Ngân hàng B trình bày việc chuyển nhượng giữa ông L, bà H với anh Lập, chị H ng và giữa anh Lập, chị H ng với anh Nam, chị Huệ phía Ngân hàng không biết được, Ngân hàng căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử d ng hợp pháp đã được cấp cho anh Nam, chị Huệ để nhận thế chấp cho vay; chuyên viên của Ngân hàng có đến thẩm định tài sản nhưng không gặp ai và tin rằng đó là tài sản hợp pháp của anh Nam, chị Huệ, do đó Ngân hàng là bên thứ 3 ngay tình, đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về trình tự thủ t c cho vay, thế chấp và hợp đ ng thế chấp đã được công chứng, chứng thực hợp lệ. Do vậy, Ngân hàng đề nghị Tòa án công nhận tính hợp pháp của hợp đ ng thế chấp giữa Ngân hàng với anh Nam, chị Huệ, đ ng thời Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định.
Ông L, bà H và luật sư Nguyễn Hùng P trình bày vì chị T1 nói là chỉ mượn Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất để vay vốn nên ông bà đ ng ý, trong giấy mượn sổ thì chị T1 nói mượn 3 tháng r i trả lại cho ông bà để ông bà sửa lại nhà do thuộc hộ nghèo, khó khăn, vì gia đình ông bà có 1 người con bị tâm thần nên phải luôn có người nhà trong nom nên không có việc Ngân hàng đến thẩm định, ông bà cũng không đi đâu ký hợp đ ng chuyển nhượng cho ai, chỉ ký vào giấy tờ chị T1 nói để vay vốn Ngân hàng, ông bà không nhận tiền chuyển nhượng của ai, không có ai đến nói về việc bàn giao nhà đất, vì vậy mọi thủ t c chuyển nhượng nhà đất của ông bà là giả tạo và chị T1 anh L2đã bị cơ quan Công an bắt về hành vi lừa đảo, do đó ông bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng, anh Nam, chị Huệ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Trong quá trình th lý và giải quyết v án cấp phúc thẩm, Thẩm phán và những người tiến hành tố t ng; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố t ng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong h sơ v án và kết quả tranh t ng tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong h sơ v án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:
Về thủ tục t tụng:
- Về đơn kháng cáo: Sau khi Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên ra xét xử sơ thẩm ngày 24/9/2025, ngày 08/10/2025, Ngân hàng TMCP B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; ngày 25/9/2025 chị Nguyễn Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đã nộp tạm ứng án phí nên kháng cáo của Ngân hàng TMCP B, chị Nguyễn Thị H là hợp lệ và được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đ ng bị đơn anh Phạm Văn N vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần; những người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điều 227; điều 228 Bộ luật Tố t ng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 Hội đ ng xét xử tiếp t c xét xử theo thủ t c chung.
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn thấy:
[2.1] Về xác định quan hệ tranh chấp:
Ngày 06/8/2024, Ngân hàng TMCP B kh i kiện yêu cầu anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H phải trả số tiền gốc 900.000.000 đ ng cùng lãi phát sinh theo Hợp đ ng tín d ng số 0000382312/2023/HĐTD-BACABANK ngày 24/02/2023, m c đích vay: bổ sung vốn kinh doanh. Chị Huệ có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H có yêu cầu độc lập: Tuyên các Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông L, bà H với anh Nguyễn Thọ L2 và giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H vô hiệu; Tuyên hủy phần đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên Nguyễn Thọ L2, Vũ Thị Bvà Phạm Văn N, Nguyễn Thị H; Tuyên hủy Hợp đ ng thế chấp tài sản. Toà án cấp sơ thẩm xác định tranh chấp về “Hợp đ ng tín d ng và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm” và “ yêu cầu tuyên bố hợp đ ng vô hiệu” là đúng quy định theo Điều 26, Điều 30 Bộ luật Tố t ng dân sự 2015
[2.2] Về thẩm quyền:
Bị đơn anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H có nơi cư trú tại thôn T H, xã CN, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Nay là thôn T H, xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên) nên Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay được Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hưng Yên) th lý và giải quyết là đúng quy định theo Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố t ng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 31 Luật tố t ng hành chính 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[2.3] Về nội dung quan hệ tranh chấp
Đối với hợp đồng tín dụng
Ngày 24/02/2023, anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H ký Hợp đ ng tín d ng số 0000382312/2023/HĐTD-BACABANK với Ngân hàng TMCP B để vay 900.000.000 đ ng nhằm bổ sung vốn kinh doanh. Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa v giải ngân theo Khế ước nhận nợ ngày 24/02/2023, số tiền chuyển cho bà Trần Thị L1 theo yêu cầu của anh Nam, chị Huệ, không phải thỏa thuận của Ngân hàng với bà L1 nên nghĩa v trả nợ ngân hàng là của anh Nam, chị Huệ. Đến hạn trả gốc ngày 24/02/2024, anh Nam, chị Huệ chưa thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo. Việc vi phạm nghĩa v trả nợ lỗi thuộc về anh Nam, chị Huệ. Toà án cấp sơ thẩm xác định hợp đ ng được giao kết giữa các bên được xác lập trên cơ s tự nguyện, m c đích không trái pháp luật, hình thức và nội dung và buộc anh Phạm Văn N; chị Nguyễn Thị H trả Ngân hàng B số tiền gốc 900.000.000 đ ng (Chín trăm triệu đồng) là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 117; 119; 401 và 463 Bộ luật dân sự 2015; khoản 1 Điều 275; Điều 280; Điều 351, Điều 352; Điều 466 Bộ luật dân sự 2015,
Về yêu cầu đòi nợ lãi: Theo Hợp đ ng tín d ng và Khế ước nhận nợ ngày 24/02/2023, lãi suất thỏa thuận: Trong hạn: 14,1%/năm (điều chỉnh theo từng Khế ước); Quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Phạt chậm trả lãi 10%/năm trên số lãi chậm trả. Toà án cấp sơ thẩm nhận định thỏa thuận phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín d ng 2010 (Điều 100 Luật các tổ chức tín d ng 2024) và Điều 357, khoản 1, 5 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 7; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 và buộc anh Nam, chị Huệ phải trả Ngân hàng B tính đến ngày 24/9/2025 số tiền lãi phát sinh là 267.910.155 đ ng, trong đó lãi trong hạn: 8.895.564 đ ng; lãi quá hạn: 257.605.890 đ ng; lãi chậm trả: 1.408.701 đ ng, ngoài ra còn buộc Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp t c trả lãi đối với khoản nợ chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử đến khi thanh toán hết khoản vay, theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đ ng tín d ng là có căn cứ và đúng quy định
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Thọ L2 và giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H vô hiệu.
Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ có trong h sơ thể hiện ông Trần Đức L và bà Nguyễn Thị H là đ ng sử d ng hợp pháp thửa đất số 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,7m² tại thôn D, xã Hoàng Hoa Thám, tỉnh Hưng Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014. Do mối quan hệ gia đình nên chị Thuỷ đã mượn giấy chứng nhận của ông L, bà H để vay tiền nhưng chị Thuỷ đã tự lập các giấy chuyển nhượng là không đúng quy định (chị Thuỷ thừa nhận nội dung này). Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông L, bà H với anh Nguyễn Thọ L2 và Hợp đ ng chuyển nhượng giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn N đều được lập thành văn bản, có công chứng, bảo đảm hình thức theo quy định tại Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, thực chất cả hai giao dịch này không nhằm m c đích mua bán mà để chị Trần Thị Thủy, anh Nguyễn Thọ L2 vay tiền, thực tế số tiền vay đều do chị T1 chi tiêu. Ông L, bà H không quen biết anh Lập, chị H ng, chị Huệ, anh Nam giữa các bên không có thỏa thuận việc chuyển nhượng mà đều thông qua chị T1, đ ng thời không thỏa thuận giá cả, không thanh toán tiền, không bàn giao tài sản, ông L, bà H, anh Lập, chị Thuỷ, chị H ng đều thừa nhận nội dung này. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Huệ cũng thừa nhận không có việc gặp mặt, thỏa thuận, giao nhận tiền và bàn giao tài sản. Thực tế ông L, bà H vẫn đang quản lý nhà; đất và ngôi nhà trên thửa đất là tài sản thuộc s hữu hợp pháp của vợ ch ng ông L, bà H. Việc ký hợp đ ng không có ý kiến của chủ s hữu tài sản, ảnh hư ng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của ông L, bà H. Chị Huệ cũng không phải bên thứ ba ngay tình vì biết rõ m c đích thực sự của việc giao dịch là giả tạo để vay tiền ngân hàng. Toà án cấp sơ thẩm xác định các Hợp đ ng nêu trên đều vô hiệu vì là giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu việc vay tiền và trốn tránh nghĩa v trả nợ Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 117 và Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với yêu cầu hủy phần đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến anh Lập, chị Hồng, chị Huệ và anh Nam: Do các hợp đ ng chuyển nhượng đều vô hiệu nên không làm phát sinh quyền sử d ng đất của các đương sự, cũng không đủ điều kiện để đăng ký biến động theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2014. Căn cứ các Điều 100, 106 Luật Đất đai năm 2014; Điều 137; Điều 152 Luật Đất đai năm 2024, yêu cầu của ông L, bà H về việc hủy đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT710616 là có căn cứ. Ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm thực hiện thủ t c đăng ký về quyền sử d ng đất theo quy định pháp luật. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xóa đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H liên quan đến anh Nguyễn Thọ L2 và chị Vũ Thị Bích H ng, chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N là có căn cứ và đúng quy định.
Về hợp đồng thế chấp;
Như phân tích tại m c [2.3.2] nêu trên, do các hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông L, bà H với anh Nguyễn Thọ L2 và Hợp đ ng chuyển nhượng giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H là vô hiệu vì là giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu việc vay tiền và trốn tránh nghĩa v trả nợ nên anh Lập, chị H ng, anh Nam, chị Huệ không phải chủ sử d ng hợp pháp đối với nhà và đất đang tranh chấp và ông L, bà H là chủ sử d ng hợp pháp theo quy định. Trong hợp đ ng chuyển nhượng chỉ thể hiện chuyển quyền sử d ng đất, không thể hiện chuyển nhượng ngôi nhà và các công trình trên đất, nhưng khi lập Hợp đ ng thế chấp trong Hợp đ ng có nội dung xử lý đối với tài sản trên đất tại m c 6.3.4, m c 6.3.10 và 11.2.5 là tài sản thuộc s hữu hợp pháp của vợ ch ng ông L, bà H. Thực tế ông L, bà H đang quản lý, sử d ng thửa đất và sinh sống tại ngôi nhà của mình trên đất, nhưng toàn bộ tài liệu liên quan đến việc thẩm định, thế chấp đều không thể hiện ông L, bà H biết việc thế chấp đã làm ảnh hư ng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L, bà H. Do đó, hợp đ ng thế chấp quyền sử d ng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 458, tờ bản đ số 22, diện tích 343,7m² tại thôn D, xã H (nay là xã Hoàng Hoa Thám), huyện T, tỉnh Hưng Yên giữa chị Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn N và Ngân hàng B - Chi nhánh Hưng Yên vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Ngân hàng trình bày khi thẩm định không biết ông L, bà H là chủ sử d ng đất, Ngân hàng chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử d ng đất hợp pháp được cấp và anh Nam, chị Huệ; chị Huệ cũng không thông báo gì về việc ông L, bà H là chủ sử d ng đất, vì vậy việc ký hợp đ ng thế chấp giữa Ngân hàng và anh Nam, chị Huệ là hợp pháp, Ngân hàng là bên thứ 3 ngay tình nên đề nghị Tòa án quyết định cho Ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định. Ông L, bà H và Luật sư Phi trình bày vì toàn bộ giao dịch là giả tạo nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Lập, chị T1 nên việc Ngân hàng nhận thế chấp tài sản bị lừa dối là không ngay tình, thực tế ông L, bà H vẫn quản lý sử d ng nhà, đất chứ không bàn giao cho ai. Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận thấy việc ký hợp đ ng chuyển nhượng nhà đất của ông L, bà H thì anh Lập, chị T1, chị Huệ đều đã thừa nhận là không có thật, ông L, bà H bị lừa dối vì tin chị T1 nói là chỉ ký thủ t c mượn sổ để thế chấp vay vốn. Chị Huệ cũng không thông báo với Ngân hàng về chủ sử d ng đất hợp pháp đối với nhà đất trên, chuyên viên thẩm định của Ngân hàng cũng không xác minh c thể về vấn đề này. Tại biên bản lấy lời khai của chị Phạm Thu Hà, Phó phòng thẩm định – Ngân hàng TMCP B, chi nhánh Hưng Yên là người trực tiếp đi thẩm định tài sản thế chấp của anh Nam, chị Huệ (bút l c số 337) thể hiện chị Hà, anh Vương (chuyên viên thẩm định) đã đến trực tiếp thửa đất 458, tờ bản đ số 22 thuộc thôn D, xã H để khảo sát, xác minh tài sản thế chấp có gặp một người ph nữ đang sinh sống trong ngôi nhà này, có biểu hiện tâm thần, chị Hà, anh Vương không hỏi chị Huệ về người ph nữ trên vì mặc định là người nhà chị Huệ. Do đó, có căn cứ xác định Ngân hàng khi thẩm định tài sản thế chấp đã không xác minh làm rõ ai là người chủ sử d ng nhà và đất, ai đang trực tiếp sử d ng nhà đất dẫn đến ảnh hư ng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L, bà H là người đang quản lý sử d ng nhà, đất hợp pháp. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định Hợp đ ng thế chấp số 0000382312/2023/HĐTD – BACABANK, ngày 24/02/2023 giữa chị Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn N với Ngân hàng B – Chi nhánh Hưng Yên vô hiệu là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 133 Bộ luật dân sự; Điều 1 M c III Giải đáp số 02/TANDTC- PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu;
Mặc dù các bên không yêu cầu xử lý hậu quả của Hợp đ ng vô hiệu nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã buộc Ngân hàng B trả lại ông L, bà H Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H và đối với các hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất, do chưa bàn giao và thanh toán nên không phát sinh hậu quả là có căn cứ và phù hợp để giải quyết triệt để v án theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015,
Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP B: Buộc anh Phạm Văn N, chị Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng số tiền 1.167.910.155 đ ng, trong đó nợ gốc 900.000.000 đ ng, lãi trong hạn 8.895.564 đ ng, lãi quá hạn 257.605.890 đ ng, lãi chậm trả 1.408.701 đ ng; anh Nam, chị Huệ tiếp t c trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đ ng tín d ng. Không chấp nhận yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đ ng thế chấp.Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H: Các Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa ông L, bà H với anh Lập, giữa anh Lập, chị H ng với chị Huệ vô hiệu; Hủy phần đăng ký biến động mang tên Nguyễn Thọ L2, Vũ Thị Bvà Nguyễn Thị H, Phạm Văn N trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên Trần Đức L, Nguyễn Thị H là có căn cứ và phù hợp.
Việc ông L, bà H cho chị T1 mượn Giấy chứng nhận để vay tiền, cũng như việc chị Huệ, anh Nam yêu cầu giải ngân vào tài khoản bà Trần Thị L1, để các bên khác chi tiêu Toà án cấp sơ thẩm nhận định là thỏa thuận riêng, không liên quan đến Ngân hàng B, các bên liên quan có quyền làm đơn kh i kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình để xem xét giải quyết trong v án dân sự khác là phù hợp.
[2.3.7 ]Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết
Về án phí dân sự sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu kh i kiện đòi nợ gốc, lãi nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.835.000 đ ng theo Biên lai thu số 0001704 ngày 15/8/2024 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện K, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hưng Yên; nguyên đơn kh i kiện yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đ ng thế chấp không được chấp nhận, nên phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tương ứng với số tiền phải thanh toán là 47.037.304 đ ng (làm tròn 47.037.000 đ ng); Anh Phạm Văn N, chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm do Hợp đ ng chuyển nhượng vô hiệu; Yêu cầu độc lập của ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H được chấp nhận, nên ông bà không phải chịu án phí. Anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bphải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm do Hợp đ ng chuyển nhượng vô hiệu; Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hưng Yên không phải chịu đ ng án phí hành chính sơ thẩm do bị hủy phần đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ, tài liệu hợp pháp và đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan, áp d ng đúng quy định của pháp luật, chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của ông L, bà H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ s . Do đó, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng B và chị Nguyễn Thị H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên toà
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng TMCP B, chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 227, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố t ng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
I. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP B và chị Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án kinh doanh sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 24/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên, c thể:
1. Căn cứ: Điều 26; Điều 30; Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố t ng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 31 Luật tố t ng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 117; Điều 119; Điều 124; Điều 131; Điều 133; khoản 1 Điều 275; Điều 280; Điều 351, Điều 352; Điều 357; Điều 401; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 7; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Điều 95; Điều 100; 106 Luật Đất đai năm 2014; Điều 137, 152 Luật Đất đai năm 2024; Điều 91 Luật các tổ chức tín d ng 2010 (Điều 100 Luật các tổ chức tín d ng 2024); m c III Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao; Điều 12; Điều 26; 32 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu kh i kiện của Ngân hàng TMCP B: Buộc anh Phạm Văn N, chị Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng số tiền 1.167.910.155 đ ng, trong đó nợ gốc 900.000.000 đ ng, lãi trong hạn 8.895.564 đ ng, lãi quá hạn 257.605.890 đ ng, lãi chậm trả 1.408.701 đ ng. Anh Phạm Văn N và chị Nguyễn Thị H còn phải tiếp t c trả lãi đối với khoản nợ chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử đến khi thanh toán hết khoản vay, theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đ ng tín d ng.
- Không chấp nhận yêu cầu công nhận hiệu lực hợp đ ng thế chấp của Ngân hàng TMCP B.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Đức L, Bà Nguyễn Thị H:
+ Tuyên Hợp đ ng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 08/02/2023 giữa ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Thọ L2 và ngày 22/02/2023 giữa anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bvới chị Nguyễn Thị H vô hiệu;
+ Tuyên huỷ phần đăng ký biến động ngày 10/02/2023 mang tên Nguyễn Thọ L2, Vũ Thị Bvà ngày 24/02/2023 mang tên Nguyễn Thị H, Phạm Văn N trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H.
+ Tuyên Hợp đ ng thế chấp tài sản số 0000382312/2023/HĐTC – BACABANK ngày 24/02/2023 giữa Ngân hàng B và chị Nguyễn Thị H, anh Phạm Văn N vô hiệu.
Buộc Ngân hàng B trả lại ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BT 710616 do UBND huyện T cấp ngày 24/7/2014 mang tên ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H
Ông Trần Đức L, bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm thực hiện thủ t c đăng ký về quyền sử d ng đất theo quy định pháp luật.
Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm xóa đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất liên quan đến anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bích H ng, chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn N.
II. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Buộc Ngân hàng TMCP B phải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm, đối trừ số tiền tạm ứng đã nộp là 19.835.000 đ ng, hoàn trả Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí là 19.535.000 đ ng theo Biên lai thu số 0001704 ngày 15/8/2024 tại Chi c c thi hành án dân sự huyện K (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
- Yêu cầu độc lập của ông L, bà H được chấp nhận nên không phải chịu án phí.
+ Bị đơn anh Phạm Văn N, chị Nguyễn Thị H phải chịu 47.037.000 đ ng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Anh Nguyễn Thọ L2, chị Vũ Thị Bphải chịu 300.000 đ ng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hưng Yên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
III. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm
Ngân hàng B phải chịu 2.000.000 đ ng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, đối trừ với số tiền 2.000.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001876 ngày 08/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, Ngân hàng B đã nộp xong. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 2.000.000 đ ng án phí kinh doanh thương mại phúc thầm, đối trừ với số tiền 2.000.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001782 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị Nguyễn Thị H đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 04/6/2026.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên; - Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên; - Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Hưng Yên - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Luân |