- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Phi H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Phi H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày: 22/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Duy Cừ
- Ông Nguyễn Hữu Nhị
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Lành, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 03 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 08/3/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Phi H, Sinh ngày: 25/3/2001; Nơi sinh: thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Tiến Q và bà: Phạm Thị H1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Huy H2; sinh năm: 2001; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 25/12/2023, Nguyễn Phi H nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời nên đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xám, có gắn thẻ sim số 0943026934 của mình lên mạng xã hội dò tìm người bán pháo. Sau đó, H sử dụng ứng dụng Facebook mang tên “Nguyễn Phi H” của mình liên lạc qua M với một người đàn ông (không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể, không xác định được tài khoản Facebook). Nguyễn Phi H đặt mua của người này 07 khối hộp pháo hoa nổ với giá 7.000.000 đồng. Người bán pháo đồng ý và hẹn H đi vào ngã ba S ở huyện V, tỉnh Quảng Trị để giao dịch. Khoảng 12 giờ ngày 26/12/2023, H đi xe khách vào ngã ba S thuộc huyện V, tỉnh Quảng trị. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đến nơi và liên lạc cho người bán pháo rồi chờ ở đó khoảng 10 phút thì một người đàn ông đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen (không rõ biển kiển soát) chở theo một thùng xốp màu trắng đi đến và nói hàng của H đó. H mở thùng xốp ra kiểm tra thấy có 07 khối hộp pháo hoa nổ loại hình chữ nhật có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau. Sau đó, H đậy nắp thùng xốp lại rồi đưa cho người này số tiền 7.000.000 đồng. Người này nhận tiền xong rồi lái xe bỏ đi. H mang theo thùng xốp nói trên đi xe khách (không rõ hãng xe) về Bến xe H ở thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, H đi xe ôm về nhà của mình ở số A đường Đ, thuộc thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, H lấy 07 khối hộp pháo hoa nổ nói trên cất giấu vào sập nhôm để ở trong sân nhà, mục đích để khi nào có khách hỏi mua sẽ mang ra bán kiếm lời. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Huy H2 (sinh năm 2001, trú tại xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, là bạn của H) ngồi nhậu với một người tên Đ (chưa có thông tin, địa chỉ cụ thể), Đ hỏi nhờ H2 mua giúp một khối pháo hoa nổ để sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đ1, H2 đồng ý. Sau đó, H2 đã sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, có gắn sim số 0838268633 của mình vào đăng nhập tài khoản Facebook mang tên “Nguyễn Huy H2” gọi M liên lạc cho H nhờ H mua giúp một khối pháo hoa nổ. H nói với H2 là có pháo đây rồi và H sẽ bán cho H2 với giá gốc một khối pháo hoa nổ là 1.000.000 đồng. H2 nói lại với Đ và Đ đồng ý nên H2 nói H đưa pháo lại trước nhà của H2 cho H2. Sau đó, Đ đưa cho H2 số tiền 1.000.000 đồng, H2 đi xe tắc xi còn H đi bộ đến trước nhà của H2 ở địa chỉ số B đường Đ thuộc xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Tại đây, H đưa cho H2 một khối pháo hoa nổ lấy số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó H sử dụng số tiền này tiêu xài cá nhân hết 600.000 đồng còn H2 đi xe tắc xi (không rõ hãng nào) quay lại quán nhậu để đưa pháo cho Đ. Khi H2 xuống xe tắc xi ở trước số nhà A đường H, thuộc phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị tổ công tác Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Tại đây, Nguyễn Huy H2 đã khai nhận toàn bộ sự việc, khối hộp pháo hoa nổ là do H2 vừa mua của Nguyễn Phi H. Căn cứ các tài liệu điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại số nhà A đường Đ, thuộc thôn T, xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ trong sập nhôm trong sân nhà 06 khối hộp pháo hoa nổ còn lại nói trên. Nguyễn Phi H khai nhận số pháo này là của H tàng trữ với mục đích để bán kiếm lời
Theo bản Kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H thì: 01 khối hộp hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (ký hiệu M1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,74 kg; 06 khối hộp hình chữ nhật có cùng kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau (ký hiệu M2) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 10,4 kg.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-TPHT ngày 02/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi Hùng về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng các Điều 125; Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Phi H đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Phi H mua bán pháo là nhằm mục đích thu lợi. Vì vậy, cần áp dụng khoản 4 Điều 190, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung phạt tiền bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng, đề nghị truy thu tiền thu lợi bất chính và xử lý vật chứng của vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên và cơ quan Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
2.1.Tại phiên tòa, Nguyễn Phi H khai nhận: khoảng 16 giờ ngày 25/12/2023 tại ngã ba S ở huyện V, tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Phi H mua của một người đàn ông (không rõ thông tin, địa chỉ cụ thể) 07 hộp pháo hoa nổ loại 49 quả có tổng khối lượng 12,14 kilôgam với giá 7.000.000 đồng đem về nhà cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày tại trước số B đường Đ thuộc xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Phi H đã bán cho Nguyễn Huy H2 01 hộp pháo hoa nổ có khối lượng 1,74 kilôgam với giá 1.000.000 đồng. Số pháo còn lại H chưa kịp bán thì bị Công an thành phố H phát hiện thu giữ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; phù hợp với kết luận giám định số 100/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H. Hành vi buôn bán pháo nổ nhằm mục đích kiếm lời của Nguyễn Phi H là buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, buôn bán trên lãnh thổ Việt Nam. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội Nguyễn Phi H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
2.2. Trong vụ án này, có người đàn ông ở huyện V, tỉnh Quảng Trị đã bán pháo cho bị cáo Nguyễn Phi H và người tên Đ đã đặt mua 01 hộp pháo của bị cáo. Tuy nhiên thông tin về những người này không rõ ràng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Huy H2, là người đã tàng trữ 1,74 kilôgam pháo hoa nổ, chưa đủ khối lượng bị xử lý hình sự nên Công an thành phố H đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Huy H2 là đúng quy định pháp luật.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
3.1. Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, gia đình bị cáo thờ cúng, nuôi mẹ liệt sỹ đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
3.2. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo phạm tội lần đầu, số lượng pháo không lớn, gia đình thờ cúng và nuôi mẹ liệt sỹ. Bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
3.3. Cần áp dụng các Điều 125; Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Phi H đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác là có căn cứ, phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Phi H buôn bán pháo là nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, về hình phạt, mức án đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Phi H là thỏa đáng.
. Về biện pháp tư pháp: Cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng tại bị cáo Nguyễn Phi H đây là tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có (quá trình điều tra đã thu giữ tại bị cáo Nguyễn Phi H số tiền 400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Phi H phải tiếp tục nộp số tiền 600.000 đồng).
. Về xử lý vật chứng: Đối với 06 khối hộp pháo hoa nổ hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, có tổng khối lượng 10,32 kg (đã trừ mẫu giám định) thu giữ tại Nguyễn Phi H; 01 khối hộp pháo hoa nổ hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, có khối lượng 1,72 kg (đã trừ mẫu giám định) thu giữ từ Nguyễn Huy H2; 01 thẻ sim số 0943026934, 01 thẻ sim số 0838268633, đây là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xám thu giữ tại Nguyễn Phi H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bị vỡ màn hình thu giữ từ anh Nguyễn Huy H2 là công cụ, phương tiện mà bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 125; Điều 299, Điều 328 của Bộ luật tố tung hình sự,
Tuyên bố Nguyễn Phi H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt: Nguyễn Phi H 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Tuyên bố: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Phi H đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Nguyễn Phi H cho UBND xã Đ, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Phi H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 4 Điều 190, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung phạt tiền bị cáo: Nguyễn Phi H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng chẵn).
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng tại bị cáo Nguyễn Phi H đây là tiền thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có (quá trình điều tra đã thu giữ tại bị cáo Nguyễn Phi H số tiền 400.000 đồng, bị cáo Nguyễn Phi H phải tiếp tục nộp số tiền 600.000 đồng).
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy: 06 khối hộp pháo hoa nổ hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, có tổng khối lượng 10,32 kg (đã trừ mẫu giám định) thu giữ tại Nguyễn Phi H; 01 khối hộp pháo hoa nổ hình chữ nhật có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài và chữ số “49”, bên trong mỗi khối hộp có 49 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau, có khối lượng 1,72 kg (đã trừ mẫu giám định) thu giữ từ Nguyễn Huy H2; 01 thẻ sim số 0943026934, 01 thẻ sim số 0838268633, đây là mặt hàng Nhà nước cấm buôn bán và là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11 màu xám thu giữ tại Nguyễn Phi H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, bị vỡ màn hình thu giữ từ anh Nguyễn Huy H2 đây là công cụ, phương tiện bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/02/2024 giữa cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh và cán bộ Công an thành phố H).
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND TP Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - CQ ĐT CATP Hà Tĩnh; - T.H.A.P.T; - CQTHADS T.P Hà Tĩnh; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Dũng |