- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn Hiệp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 27-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đại Tiến
Ông Lý Đức Thà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Bế Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27-4-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 10-3-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HS ngày 14-4-2023 đối với bị cáo:
Đàm Văn H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 25 tháng 12 năm 1985 tại xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm NR, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng (nơi cư trú cũng là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú); nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Hải B, sinh năm 1950 (Đã chết) và bà Đinh Thị H1, sinh năm 1949; vợ: Thân Thị S, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2011; tiền án: 07 (Ngày 28-8-2013 Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 13; Ngày 19-11-2014 Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 41; Ngày 26-01-2015 Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 04; Ngày 27-6-2017 Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 13; Ngày 24-9-2018 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 53; Ngày 11-11-2019 Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 20; Ngày 06-4-2021 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 31); tiền sự: Không; nhân thân: Xấu (Tháng 01 năm 2007 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 09-02-2023 Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-12-2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Đàm Thị D, sinh năm 1984; Địa chỉ: Xóm ĐN, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, có mặt;
2. Bà Phan Thị Th, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm B, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có lý do;
3. Chị Đàm Thị T, sinh ngày 06-01-2009; Địa chỉ: Xóm B, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có lý do;
Người đại diện hợp pháp của bị hại Đàm Thị T: Bà Phan Thị Th, sinh năm 1977; Địa chỉ: Xóm B, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có lý do;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Xóm NR, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05-12-2022, Công an xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng tiếp nhận tin báo của bà Đàm Thị D (sinh năm 1984, trú tại xóm ĐN, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng) và bà Phan Thị Th (sinh năm 1977, trú tại xóm B, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng) về việc gia đình bà D bị mất 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S và bà Th bị mất 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO F1S và nhãn hiệu REALME 5 PRO cùng với số tiền hơn 2.000.000 đồng. Công an xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng đã tiến hành lập biên bản vụ việc và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng để điều tra theo đúng thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định được Đàm Văn H sinh năm 1985, trú tại Xóm NR, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Đàm Thị D và gia đình bà Phan Thị Th.
Ngày 13-12-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định nhập vụ án hình sự số: 02/QĐ-CQĐT đối với Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 35 và Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 36.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa Đàm Văn H khai nhận: Sáng ngày 05-12-2022 H một mình đi xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA mang biển kiểm soát 30X5-7157 từ thành phố C, tỉnh Cao Bằng đến khu vực xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực xóm ĐN, xã NĐ, huyện HQ H đi đến một nhà cấp 4 (nằm ở bên trái đường theo hướng CC - Đ) thì dừng xe lại rồi bước vào thì phát hiện cửa chính đang khóa nên H quay lại xe mô tô lấy 01 chiếc kìm bằng kim loại có vỏ bọc màu đỏ từ cốp xe ra để bẻ khóa. Sau khi bẻ được khóa, H vào trong nhà lục đồ tìm kiếm tài sản, H tìm được 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu VIVO Y33S màu xanh để trong phòng ngủ. H cho chiếc điện thoại vào trong túi quần và ra khỏi căn nhà cấp 4, khép cửa móc lại ổ khóa rồi lên xe nổ máy rời đi. H tiếp tục đi đến khu vực xóm B, xã NĐ, huyện HQ quan sát thấy một căn nhà nằm bên phải đường (hướng đi CC - Đ) có cửa khép lại nhưng không khóa, H đã dừng xe đi vào trong nhà tìm kiếm tài sản rồi phát hiện 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu REALME 5 PRO mặt lưng màu xanh đặt trên giường nên H đã cầm lấy và cho vào túi quần. Sau đó, H đi ra ngoài và đi vào cửa sau của nhà bên cạnh (nhà không khóa cửa) H đi vào tìm kiếm tài sản, H nhìn thấy 01 chiếc túi xách màu đỏ treo trên tường nên đã lục lọi tìm được 5.000 đồng, rồi H lại nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S ở đầu giường ngủ và phía dưới đệm giường có một số tiền gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng, H nhanh chóng bỏ vào túi và rời khỏi căn nhà. Khi ra đến đoạn đường vắng người, H không nhớ chính xác địa điểm, H đã đếm lại số tiền vừa trộm được là 1.705.000 đồng. H tiếp tục di chuyển ra thành phố C, khi đi đến một cây xăng dầu (không nhớ địa chỉ cụ thể) H vào mua xăng cho xe mô tô hết 50.000 đồng và tại đây H đổi các tờ tiền vừa trộm cắp được lấy 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Ngoài ra, H còn được chi tiêu cho việc ăn uống hết 155.000 đồng.
H còn khai: Trước đó, khoảng tháng 11 năm 2022 tại xóm ĐL, xã LL, huyện TA, tỉnh Cao Bằng H có thực hiện trộm cắp 01 con lợn tiết kiệm tại nhà dân. Sau đó H đập con lợn và đếm số tiền được khoảng 700.000 đồng gồm có 02 tờ tiền mệnh giá lớn nhất là 50.000 đồng và nhiều tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng và 2.000 đồng. Ngoài ra, H không trộm cắp thêm lần nào khác.
Ngày 06-12-2022, Đàm Văn H bị Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng phát hiện và tạm giữ số tang vật H thực hiện trộm cắp tại huyện HQ vào ngày 05-12-2022 gồm: Số tiền 1.500.000 đồng, 03 điện thoại, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30X5-7157 kèm theo giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thu L và 01 chiếc kìm bằng kim loại. Ngày 17-01-2023 Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng để điều tra, xử lý.
Ngày 08-12-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 85, 86 định giá: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh; 01 di động nhãn hiệu OPPO F1S (các điện thoại đều đã qua sử dụng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 518, 520/KL-HĐĐG ngày 08-12-2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Hà Quảng kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh có giá 4.272.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh có giá 2.580.000 đồng; 01 di động nhãn hiệu OPPO F1S có giá 250.000 đồng.
Ngày 09-02-2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đàm Thị D 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng; Trả lại cho Đàm Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng; Trả lại cho bà Phan Thị Th 01 di động nhãn hiệu OPPO F1S, điện thoại đã qua sử dụng và số tiền 1.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bà Đàm Thị D trình bày: Ngày 05-12-2022 Bà bị mất 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh khi đang sạc điện ở trong nhà. Sau đó Bà đã trình báo với Công an xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng về việc Bà bị mất chiếc điện thoại. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh Bà đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng trả lại vào ngày 09-02-2023. Đối với chiếc ổ khóa bị hỏng do bị cáo phá khóa, Bà không yêu cầu bị cáo bồi thường. Tại phiên tòa, về trách nhiệm hình sự Bà yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự Bà không có ý kiến và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Tại Cơ quan điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt bà Phan Thị Th trình bày: Trưa ngày 05-12-2022 sau khi Bà đi làm ruộng về thì thấy con gái là Đàm Thị T nói T bị mất điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh. Sau đó, bà Th đã đi kiểm tra lại đồ đạc trong nhà thì phát hiện bà Th cũng bị mất 01 di động nhãn hiệu OPPO F1S và số tiền gần 2.000.000 đồng. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng đồng và số tiền 1.500.000 đồng Bà đã được trả lại vào ngày 09-02-2023. Bà Th yêu cầu bị cáo bồi thường cho Bà số tiền còn lại là 205.000 đồng. Ngoài ra Bà không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt Đàm Thị T trình bày: Ngày 05-12-2022 sau khi đi học về T phát hiện mình bị mất chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh. T đã được trả lại chiếc điện thoại nên không có ý kiến và yêu cầu gì thêm. Cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Tại Cơ quan điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt bà Đinh Thị H1 trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157 là chiếc xe Bà đưa tiền cho H đi mua về làm phương tiện đi lại cho Bà và gia đình. Đây là số tiền của cá nhân Bà, Bà chỉ cho H sử dụng xe, còn quyền quản lý chiếc xe là thuộc về Bà. Việc H dùng chiếc xe mô tô đi thực hiện hành vi trộm cắp Bà hoàn toàn không biết. Nay Bà yêu cầu được trả lại chiếc xe nói trên.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSHQ ngày 09-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị can Đàm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đàm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đàm Văn H từ 32 tháng đến 40 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không có đề nghị áp dụng.
Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản. Bị hại Đàm Thị D, Đàm Thị T không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Đối với yêu cầu của bà Phan Thị Th buộc bị cáo bồi thường số tiền 205.000 đồng, căn cứ vào Điều 584, 585, 586 và 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo H bồi thường số tiền 205.000 đồng cho bà Phan Thị Th.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157 là chiếc xe bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước kèm giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thu L (địa chỉ: PV, thị trấn T, huyện TT, thành phố HN).
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại có tay cầm được bọc bằng cao su màu đỏ đen, hai bên tay cầm có chữ UNITY, chiếc kìm dài 19cm.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đàm Văn H.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng. Tại phần tranh luận bị cáo Đàm Văn H, bị hại Đàm Thị D không có ý kiến tranh luận và đều nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm tái hòa nhập cộng đồng làm người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Sáng ngày 05-12-2022 Đàm Văn H đi xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157 đến khu vực xã NĐ, huyện HQ để trộm cắp tài sản. Tại xóm ĐN, xã NĐ, huyện HQ, H dùng kìm phá khóa cửa đột nhập vào nhà bà Đàm Thị D trộm được 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh, điện thoại đã qua sử dụng. Sau đó, H tiếp tục di chuyển đến xóm B, xã NĐ, huyện HQ đột nhập vào nhà bà Phan Thị Th trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S cùng với số tiền 1.705.000 đồng và trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh của Đàm Thị T (con gái bà Th). Hội đồng định giá 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S, mặt lưng màu xanh có giá 4.272.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 5 PRO, mặt lưng màu xanh có giá 2.580.000 đồng; 01 di động nhãn hiệu OPPO F1S có giá 250.000 đồng, tổng số giá trị tài sản xâm phạm là 8.807.000 đồng. Bị cáo Đàm Văn H có 07 tiền án (05 tiền án về tội trộm cắp tài sản, 02 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy). Tại Bản án số 20/2019/HS-ST ngày 11-11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng bị cáo H bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi Trộm cắp tài sản của bị cáo Đàm Văn H thực hiện vào ngày 05-12-2022 thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo H đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, chỉ vì mục đích tư lợi muốn có tiền để tiêu sài cá nhân, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đàm Văn H sinh ra và lớn lên tại xóm NR, xã NĐ, huyện HQ. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo có 07 tiền án, bị cáo không có tiền sự. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trước Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
Với tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có thể giúp bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét đề nghị áp dụng pháp luật và ra mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đàm Thị D, Phan Thị Th, Đàm Thị T xác nhận đã được trả lại tài sản bị chiếm đoạt (là vật chứng của vụ án) và bị hại Đàm Thị D, Đàm Thị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm thiệt hại và không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
Bị hại Phan Thị Th yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 205.000 đồng còn lại cho Bà, yêu cầu của bị hại Th được bị cáo đồng ý. Xét thấy yêu cầu của bị hại Th là có căn cứ, được bị cáo H nhất trí và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bị hại Th buộc bị cáo Đàm Văn H bồi thường cho bị hại Phan Thị Th số tiền 205.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần xử lý như sau:
- Chiếc xe mô tô SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157 quá trình điều tra bị cáo và bà Đinh Thị H1 cùng thừa nhận chiếc xe mô tô là do bà H1 bỏ tiền ra cho H đi mua để làm phương tiện đi lại cho bà H1 và cả gia đình. Chiếc xe thuộc quyền quản lý của bà H1, còn H chỉ được sử dụng đi lại. Việc H dùng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà H1 hoàn toàn không biết. Xét thấy ngoài lời khai của bị cáo, bà H1 thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc chiếc xe do bà Đinh Thị H1 bỏ tiền ra mua. Do đó, yêu cầu trả lại chiếc xe mô tô của bà H1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Nếu bị cáo H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đinh Thị H1 có tranh chấp thì có thể khởi kiện bằng 01 vụ khiếu kiện dân sự khác, Tòa án sẽ thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chiếc xe mô tô SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157 là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, phát mại sung công quỹ Nhà nước kèm giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thu L (địa chỉ: PV, thị trấn T, huyện TT, thành phố HN).
- 01 chiếc kìm bằng kim loại có tay cầm được bọc bằng cao su màu đỏ đen, hai bên tay cầm có chữ UNITY, chiếc kìm dài 19cm là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Ngày 09-02-2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 03 chiếc điện thoại và số tiền 1.500.000 đồng cho các bị hại. Xét thấy, các bị hại là chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản do bị cáo chiếm đoạt, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng ra Quyết định xử lý vật chứng là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi trộm cắp 01 con lợn tiết kiệm tại nhà dân thuộc xóm ĐL, xã LL, huyện TA, tỉnh Cao Bằng ngày 09-02-2023 Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đàm Văn H bằng hình thức phạt tiền, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý gì thêm trong vụ án này.
Về án phí: Do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Đàm Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đàm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đàm Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 08-12-2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
Buộc bị cáo Đàm Văn H bồi thường cho bị hại Phan Thị Th (trú tại xóm B, xã NĐ, huyện HQ, tỉnh Cao Bằng) số tiền 205.000 đồng (Hai trăm linh năm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Ghi nhận các bị hại Đàm Thị D, Đàm Thị T tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM ATTILA màu hồng-vàng, mang biển kiểm soát 30X5-7157, xe không có gương chiếu hậu bên phải, xe cũ đã qua sử dụng (tình trạng xe: Phần dưới giá để chân bị nứt vỡ, phần chắn bùn phía trước bị nứt, xe không có chìa khóa xe, có số khung: 038535, không kiểm tra được số máy), kèm giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thu L (địa chỉ: PV, thị trấn T, huyện TT, thành phố HN).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kìm bằng kim loại có tay cầm được bọc bằng cao su màu đỏ đen, hai bên tay cầm có chữ UNITY, chiếc kìm dài 19cm.
Xác nhận:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng đã chuyển vật chứng trên sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hà Quảng tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10-3-2023.
- Ngày 09-02-2023, các bị hại Đàm Thị D, Phan Thị Th, Đàm Thị T đã nhận lại các tài sản từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
4. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Đàm Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự thẩm không có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, bị hại Đàm Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNV liên quan đến vụ án; - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Hà Quảng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - Cơ quan CSĐT Công an H. Hà Quảng; - Cơ quan THAHS Công an H.Hà Quảng; - Nhà tạm giữ Công an H. Hà Quảng; - Chi cục THADS huyện Hà Quảng; - Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng; - UBND xã Ngọc Đào, huyện Hà Quảng; - Lưu: HS; THAHS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hồng Vân |