vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Chung Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ-TỈNH QUẢNG NAM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Ngô Văn Khôi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Phú Hoa

Ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Lê Doãn Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 136/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Huỳnh Ngọc T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998, tại Núi Thành, Quảng N; nơi ĐKHKTT: Thôn Phú Th, xã Tam Tr, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N; chỗ ở: Khối phố Mỹ Nam, phường An M, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; nghề nghiệp: công nhân làm kính; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Huỳnh Ngọc N và bà Trần Thị Lệ H (đã chết); bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "tạm giữ" từ ngày 08-8-2021 đến ngày 14-8-2021 chuyển “tạm giam”. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.

2. Chung Văn Đ, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1995, tại Núi Thành, Quảng N; nơi ĐKHKTT: Thôn Đức Ph, xã Tam S, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N; chỗ ở: Khối phố Mỹ N, phường An M, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Chung Văn Tr và bà Huỳnh Thị H; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "tạm giữ" từ ngày 08-8-2021 đến ngày 14-8-2021 chuyển “tạm giam”. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn Phú Thọ, xã Tam Trà, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, có mặt.

+ Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn Phú Đ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

+ Bà Xa Thị Hoàng N, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ 10, thị trấn Hà L, huyện Thăng B, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Bà Võ Thị T, sinh năm 2001, địa chỉ: Khối phố Mỹ Thạch Đ, phường Tân Th, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Ông Hồ Nam Q, sinh năm 1998, địa chỉ: Thôn An Thành 2, xã Bình A, huyện Thăng B, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1993, Thôn 3, xã Tam S, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Ông Trần Thanh C, sinh năm 1994, địa chỉ: Khối phố 2, phường An X, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Ông Chung Văn T, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn Thuận Yên T, xã Tam S, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Đình Th, sinh năm 1995, địa chỉ: Thôn Phú Đ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quang K, sinh năm 1969, địa chỉ: Số 195 Lý Thường Kiệt, phường An M, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 ngày 08-8-2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc nghi vấn tại ngôi nhà Số 295 Lý Thường Kiệt, thuộc khối phố Mỹ Nam, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam có một số đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ phối hợp với Công an phường An Mỹ đến địa điểm trên để xác minh thì phát hiện trong ngôi nhà này có 10 đối tượng gồm: Huỳnh Ngọc T Nguyễn Thị Thanh H đang ở tầng 1 ngôi nhà; Chung Văn Đ; Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T; Xa Thị Hoàng N; Võ Thị T; Hồ Nam Q; Nguyễn Thanh T; Trần Thanh C đang ở tầng 2 ngôi nhà có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ tiến hành lập biên bản sự việc và tạm giữ các tang vật (ở phòng ngủ tầng 2 ngôi nhà) gồm:

- 01 túi ni lông đựng chất rắn dạng tinh thể màu trắng (qua thử nhanh là ma túy loại ketamine (đã niêm phong);

- 02 đèn chiếu sáng nhiều màu;

- 01 loa nghe nhạc mi ni;

- 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) được cuộn tròn thành ống hút;

- 01 đĩa Thy tinh;

- 01 thẻ nhựa ATM.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ: tạm giữ của Huỳnh Ngọc T 01 điện thoại di động hiệu Realme có gắn sim số 0788540504 và 0373446541; tạm giữ của Chung Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone7 Plus có gắn sim số 0905471752.

Tại bản kết luận giám định số 129/PC09 ngày 11/8/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam, kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi ni lông tạm giữ tại phòng ngủ tầng 2 Số nhà 295 Lý Thường Kiệt nêu trên (ký hiệu mẫu A) là chất ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 0,076gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, số thứ tự: 35 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra xác định:

Từ thời gian đầu tháng 5-2021, Huỳnh Ngọc T ở tại ngôi nhà Số 295 Lý Thường Kiệt tại khối phố Mỹ Nam, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do ông Trần Quang Khải, là cậu ruột của Huỳnh Ngọc T (đã qua Mỹ định cư) giao cho Huỳnh Ngọc T ở trông coi ngôi nhà này. Sau khi T đến ở đây, T có quan hệ quen biết với Hồ Nam Q (là người làm cùng công ty) và vợ Q là Nguyễn Thị Thanh H (là người bà con xa, cùng quê với T), nên T đã gọi điện xin ông Khải cho vợ chồng Q, H đến ở nhờ tại đây và được ông Khải đồng ý. Ngôi nhà này gồm có hai tầng và 02 phòng ngủ, T ở tại phòng ngủ tầng 2, còn vợ chồng Q, H ở tại phòng ngủ tầng 1 của ngôi nhà. Q và H ở tại đây từ đầu tháng 7-2021.

Vào chiều tối ngày 07-8-2021, Hồ Nam Q tổ chức sinh nhật nên đã mời một số bạn bè gồm Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T, Trần Thanh C, Nguyễn Thị Thanh H nhậu sinh nhật chung vui với Q tại ngôi nhà Số 295 Lý Thường Kiệt. Khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, Q mua bia và thức ăn rồi cùng số bạn được mời đến chơi ngồi nhậu tại phòng khách của ngôi nhà. Ban đầu, tham gia nhậu gồm có Q, T, H, C, Th, Đ và T, đến khoảng 21 giờ 30 cùng ngày thì có Mạnh (không rõ lai lịch) là bạn quen biết của Q đi ngang nhà thấy nhậu nên vào tham gia nhậu cùng. Cả nhóm nhậu đến khoảng 22 giờ 30 thì nghỉ, sau khi nhậu xong, Mạnh khởi xướng rủ cả nhóm sử dụng ma túy và nghe nhạc cho vui thì Q, Đ, T, C, Th, T đều đồng ý và thống nhất với nhau là cùng góp tiền để mua 05 viên ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và 01 gói Ketamine để sử dụng. Do Mạnh là người biết chỗ mua ma túy và thuê loa, đèn nên cả nhóm thống nhất với nhau là Mạnh bỏ tiền ra trước để mua ma túy và thuê loa, đèn cho cả nhóm sử dụng, đến ngày mai (tức ngày 08-8-2021) tính toán lại chi phí hết bao nhiêu thì chia đều ra cho Q, T, Đ, C, Th, T và Mạnh sẽ góp tiền để trả tiền mua ma túy. Sau đó, Mạnh điều khiển xe máy của Mạnh đi mua ma túy và thuê loa, đèn. Sau khi Mạnh đi mua ma túy, T, Q, Đ, Th, C và T ngồi trao đổi với nhau là sử dụng ma túy tại đâu. Do phòng ngủ của T tại tầng 2 ngôi nhà có máy điều hòa nên T đồng ý cho nhóm bạn lên phòng ngủ của mình để sử dụng ma túy và nghe nhạc. Sau đó, T đi lên phòng ngủ của T dọn dẹp áo quần gọn gàng để nhóm bạn lên phòng chơi và sử dụng ma túy. Thời điểm Mạnh, Đ, T, Th, Q, T và C thống nhất góp tiền mua ma túy về sử dụng thì H dọn dẹp phòng khách nơi mới nhậu xong và đi rửa chén nên không tham gia việc thống nhất góp tiền mua ma túy để sử dụng.

Sau khi đi khoảng 15 phút thì Mạnh quay về và đem theo 05 viên ma túy tổng hợp (thuốc lắc) và 01 gói ma túy loại Ketamine cùng 01 ba lô bên trong có 01 loa nghe nhạc và 02 đèn nháy nhiều màu lên phòng ngủ của T tại tầng 2 ngôi nhà. Tại đây, Mạnh nói với cả nhóm giá 05 viên ma túy thuốc lắc là 2.000.000đ (hai triệu đồng) và 01 gói ma túy Ketamine có giá là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Sau khi đem ma túy đến, Mạnh lấy loa, đèn trong ba lô ra, mở nhạc, bật đèn màu để mọi người nghe nhạc, lấy đĩa Thy tinh và thẻ nhựa cán mịn Ketamine, lấy tờ tiền 10.000đ (mười nghìn đồng) cuộn tròn thành ống hút và bẻ các viên ma túy tổng hợp (thuốc lắc) ra thành nhiều phần nhỏ rồi Mạnh, T, Đ, Q, T, C, Th cùng nhau sử dụng ma túy và nằm nghe nhạc. Sau khi dọn dẹp bàn nhậu và rửa chén xong, H lên phòng T chơi và tự lấy ma túy sử dụng và nghe nhạc được một lúc thì xuống phòng ngủ của H tại tầng 1 của ngôi nhà nằm nghỉ. Việc H tự lấy ma túy sử dụng chỉ có Mạnh biết còn những người còn lại trong phòng không biết.

Trong lúc sử dụng ma túy, Chung Văn Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone7 Plus có gắn sim số 0905471752 của Đ gọi điện cho Chung Văn T vào số máy 0339002531 rủ T đến nhà T chơi và sử dụng ma túy cùng Đ thì T đồng ý. Đ sử dụng ứng dụng Messenger cài đặt trong điện thoại, dùng tài khoản Messenger của Đ có tên là “Chung Tà Đ” nhắn tin vào tài khoản Messenger của Võ Thị T có tên là “T Võ” rủ T đến nhà T chơi. Do T không có xe nên Đ đón taxi ra nhà T tại khối phố Mỹ Thạch Đ, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, sau đó cùng T đi đến nhà Số 295 Lý Thường Kiệt và dẫn lên phòng ngủ của T. Tại phòng ngủ của T, Đ nói với T là có bạn nữ nào rủ đến chơi (rủ đến chơi không rủ sử dụng ma túy), T nhắn tin cho Xa Thị Hoàng N đến chơi. Sau đó, N đến nhà Số 295 Lý Thường Kiệt để chơi. Tại đây, Đ nói Mạnh đưa ma túy cho T và T sử dụng, còn N ngồi chơi, một lúc sau thì Mạnh rủ N chơi ma túy và đưa ma túy cho N sử dụng. Việc Chung Văn Đ rủ T, T đến sử dụng ma túy và rủ N đến chơi cùng cả nhóm thì Đ không nói với T, Q, T, C, Th biết; việc T, T, N cùng sử dụng ma túy trong phòng thì T, Q, T, C, Th không biết. Trong quá trình chơi tại đây, Mạnh có gọi thêm 02 nữ tiếp viên (không rõ lai lịch) đến để phục vụ. Đến khoảng 03 giờ 10 phút ngày 08-8-2021 thì bị lực lượng Công an phát hiện. Khi lực lượng Công an đến, Mạnh và 02 nữ tiếp viên phục vụ lợi dụng trời tối bỏ chạy thoát, còn lại 10 người gồm T, Q, Đ, C, Th, T, H, T, T, N thì bị lực lượng Công an phát hiện lập biên bản và thu giữ các tang vật như trên.

Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã tiến hành thử nước tiểu phát hiện sử dụng chất ma túy xác định Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ, Hồ Nam Q, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T, Trần Thanh C, Nguyễn Thị Thanh H, Chung Văn T, Võ Thị T, Xa Thị Hoàng N đều dương tính với chất ma túy, loại ma túy tổng hợp (Ketamine và MDMA).

Cáo trạng số 06/CT-VKSTK-HS ngày 18 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố Huỳnh Ngọc T về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Truy tố Chung Văn Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T mức án từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chung Văn Đ mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo T: Bị cáo đã thấy được sai trái, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Đ: Bị cáo đã thấy được sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, Th tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07-8-2021, tại nhà Số 295 Lý Thường Kiệt thuộc khối phố Mỹ Nam, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do Huỳnh Ngọc T quản lý, sử dụng. Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T, Hồ Nam Q, Nguyễn Thanh T, Trần Thanh C, Mạnh (không rõ lai lịch) thống nhất góp tiền mua ma túy để sử dụng. Sau khi mua được ma túy thì Huỳnh Ngọc T sử dụng phòng ngủ của mình tại tầng hai của ngôi nhà Số 295 Lý Thường Kiệt cho 11 người gồm: Chung Văn Đ, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T, Hồ Nam Q, Nguyễn Thanh T, Trần Thanh C, Nguyễn Thị Thanh H, Xa Thị Hoàng N, Võ Thị T, Chung Văn T, Mạnh (không rõ lai lịch) sử dụng trái phép chất ma túy. Chung Văn Đ tìm người và cung cấp ma túy cho 03 người gồm: Chung Văn T, Võ Thị T, Xa Thị Hoàng N sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 08-8-2021, thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ và Công an phường An Mỹ phát hiện và thu giữ 0,076 gam ma túy loại Ketamine còn lại.

Đối chiếu kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc T đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Chung Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về kiểm soát, quản lý, sử dụng các chất ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để có điều kiện cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Trong quá trình tố tụng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T có thời gian đi nghĩa vụ Q sự được tặng giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.

Do bị cáo Huỳnh Ngọc T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nên xét thấy đủ điều kiện áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng:

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có thu lợi bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: Số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam niêm phong trong phong bì số 129/PC09; 02 đèn chiếu sáng nhiều màu, 01 loa nghe nhạc mi ni, 01 đĩa Thy tinh, 01 thẻ nhựa ATM liên quan đến việc phạm tội; 01 sim số 0905471752 của Chung Văn Đ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với: 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ được cuộn thành ống hút liên quan đến việc phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu Iphone7 Plus của Chung Văn Đ sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Realme có gắn sim số 0788540504 và 0373446541 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tuyên trả lại cho Huỳnh Ngọc T là phù hợp.

- Đối với số tiền 6.000.000 đồng mà Q, T, Đ, C, Th, T thống nhất góp tiền mua ma túy về để sử dụng, cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

Những vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với người bán ma túy cho người tên Mạnh, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ không đề cập xử lý.

- Đối với người tên Mạnh là người đã mua ma túy, chuẩn bị các đồ vật, dụng cụ phục vụ trong việc sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp ma túy cho N, T, T sử dụng và 02 nữ tiếp viên do Mạnh gọi đến phục vụ đã bỏ chạy. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ không có cơ sở xác minh được họ tên, lai lịch, địa chỉ của những người này, nên không đề cập xử lý.

- Đối với Võ Thị T có hành vi rủ Xa Thị Hoàng N đến nhà Số 295 Lý Thường Kiệt, T chỉ rủ N đến chơi chứ không rủ đến để sử dụng ma túy, đồng thời T cũng không góp tiền để mua ma túy và cũng không biết ma túy của ai nên không đề cập xử lý đối với T. Đối với việc Chung Văn Đ rủ Võ Thị T, Chung Văn T đến sử dụng ma túy và nói Mạnh đưa ma túy cho T và T sử dụng, Mạnh rủ N và đưa ma túy cho T, T, N sử dụng, H tự ý lấy ma túy sử dụng thì T, Q, T, C, Th không biết và việc thống nhất góp tiền mua ma túy thì H cũng không biết. Tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt khai nhận đã thể hiện rõ các nhận định trên nên không có cơ sở để xử lý đối với T và không có cơ sở để xử lý đối với T, Q, T, C, Th về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ, Nguyễn Thị Thanh H, Chung Văn T, Võ Thị T và Xa Thị Hoàng N đã vi phạm khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Công an thành phố Tam Kỳ đã ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt phạt tiền, mức phạt: 500.000 đồng/01người là phù hợp.

- Đối với Hồ Nam Q, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T và Trần Thanh C có hành vi thống nhất góp tiền mua ma túy để sử dụng, ma túy mua về sử dụng chưa hết còn lại 0,076 gam Ketamine. Hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Hồ Nam Q, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T và Trần Thanh C đã vi phạm theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Công an thành phố Tam Kỳ đã ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức phạt tiền, mức phạt: 1.500.000đồng/01người là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc T phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Chung Văn Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc T 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-8-2021.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chung Văn Đ 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-8-2021.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone7 Plus của Chung Văn Đ.

Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định đã được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam niêm phong trong phong bì số 129/PC09; 02 đèn chiếu sáng nhiều màu, 01 loa nghe nhạc mi ni, 01 đĩa Thy tinh, 01 thẻ nhựa ATM liên quan đến việc phạm tội; 01 sim số 0905471752 của Chung Văn Đ sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại cho Huỳnh Ngọc T: 01 điện thoại di động hiệu Realme có gắn sim số 0788540504 và 0373446541.

Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với: Hồ Nam Q, Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ, Trần Thanh C, Nguyễn Đình Th, Đỗ Văn T mỗi người 1.000.000 (một triệu) đồng. (tổng cộng số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng).

(Các vật chứng hiện đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21-12-2021).

3. Về Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Chung Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ