vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo: Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Anh V và Lương Thế D phạm tội: “Đánh bạc”

[2] Xử phạt: Bị cáo Lương Xuân H 06 (Sáu) tháng tù, bị cáo được trừ đi 03 (Ba) ngày tạm giữ (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - Phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo: Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Anh V và Lương Thế D phạm tội: “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM THAO
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS - ST
Ngày 20/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Trần Gia Phượng

2/Bà Trần Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2021/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Lương Xuân H, sinh ngày 09/3/1977 tại huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn T sinh năm 1944, đã chết và bà: Trần Thị C, sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thị C2, sinh năm:1979 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011;

- Tiền án: Không

- Tiền sự: Ngày 26/3/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 234 về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Lương Xuân H. Ngày 10/3/2021, Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội Phú Văn thuộc Sở lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận số 403 về việc chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Xuân H;

- Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 140/PT ngày 04/10/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử Lương Xuân H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của Công dân quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLHS 1985.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo đang ở tại nơi cư trú.

2. Lương Trọng K; sinh ngày 26/12/1979 tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Trọng Y, đã chết và bà: Phạm Thị C3, sinh năm 1942; vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; con: Có 02 con, lớn sinh năm: 2001, nhỏ sinh năm: 2010;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2016/HSST ngày 25/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, xử phạt Lương Trọng K số tiền 6.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 248 BLHS 1999. Ngày 14/6/2017, bị cáo K đã thi hành xong hình phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo đang ở tại nơi cư trú.

3. Lương Thế D; sinh ngày 27/11/1984 tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu B, xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn T2, sinh năm 1963 và bà: Phạm Thị K2, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm: 1986; Con: có 03 con, lớn sinh năm: 2006, nhỏ sinh năm: 2014;

- Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo đang ở tại nơi cư trú.

4. Lương Anh V; sinh ngày 16/02/1976 tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Khu X, xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Ngọc N2, sinh năm 1933, đã chết; và bà: Phạm Thị S, sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1984; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2020;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân Thân: Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 29 ngày 17/10/2000 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử Lương Anh V 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS 1999 và tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 BLHS 1999. Ngày 01/4/2009, Công an huyện Phù Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương Anh V số tiền 1.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe tính mạng của người khác. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 20 ngày 13/1/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử Lương Anh V 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm đối với bản án trên.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện bị cáo đang ở tại nơi cư trú.

(Các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/9/2021, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao phối hợp với Công an xã A kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại nhà ở của Lương Xuân H, sinh năm 1977, ở Khu X, xã A, huyện Lâm Thao có các đối tượng đang đánh bài Sâm được thua bằng tiền tại gian buồng ngủ nhà H gồm: Lương Xuân H; Lương Trọng K, sinh năm 1979, ở Khu X; Lương Thế D, sinh năm 1984, ở khu 15; Lương Anh V, sinh năm 1976, ở Khu X (cả H, K, D, Văn đều ở xã A, huyện Lâm Thao). Khi bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc tại buồng ngủ nhà H, có chị Trần Thị Mai H2, sinh năm 1994, ở phường G, TX Phú Thọ đang ngồi trên giường và chị Phạm Thị C3, sinh năm 1977, ở khu L, xã A (người yêu H) đang ở ngoài sân nhà H. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã thu giữ trên chiếc chăn mà các bị cáo ngồi đánh bạc số tiền 5.250.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chăn nhung màu đỏ có họa tiết kích thước 1m9 x 1m75, 01 chiếu mành kích thước 02m x 01m6.

Cùng ngày 28/9/2021, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nhà ở của Lương Xuân H. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 28/9/2021, Lương Anh V một mình đi đến nhà Lương Xuân H để chơi. Khi đến nhà Lương Xuân H, V thấy H cùng bà Trần Thị C, sinh năm 1944 là mẹ đẻ của H (bị tai biến nằm ở trên giường ngoài phòng khách nhà H) và chị Phạm Thị C3 có mặt tại nhà. Sau đó, lần lượt có Lương Trọng K và Lương Thế D đến nhà H chơi. Tại nhà của H, cả 04 người gồm: Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Thế D, Lương Anh V cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức “Sâm” được thua bằng tiền. Lương Xuân H lấy 01 chiếc chăn trải lên chiếc chiếu đã trải sẵn dưới nền buồng ngủ của gia đình và lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn ở trong buồng ngủ để đánh bạc. Các bị cáo ngồi trên chiếc chăn mà H đã trải sẵn dưới nền nhà rồi các bị cáo bắt đầu đánh bạc.

Các bị cáo thống nhất cách thức đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Sâm” được thua bằng tiền như sau: Trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mỗi người sẽ được chia 10 quân bài. Ai đánh hết lá bài trước thì thắng và những người còn lại sẽ đếm lá bài còn lại chưa đánh và trả cho người đánh hết lá bài trước số tiền mức 10.000 đồng/01 lá. Ai hô báo “Sâm” và đánh hết các lá bài của mình mà không ai chặn được thì thắng, mỗi người phải trả cho người thắng số tiền 200.000 đồng; nếu bị bắt Sâm thì người bị bắt Sâm phải trả cho người bắt Sâm số tiền 600.000 đồng, những người chơi còn lại không phải trả tiền cho người bắt Sâm. Ai bị “Treo” tức là không đánh được lá bài nào thì phải trả cho người thắng số tiền 200.000 đồng. Ai đánh quân bài “2” mà bị chặn “Tứ quý” (04 quân bài giống nhau) thì phải trả cho người đã chặn “Tứ quý” số tiền 150.000 đồng. Ai là người thắng ván bài sẽ được cầm bài và chia tiếp cho những người chơi còn lại ở ván bài sau.

Số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau:

Lương Xuân H có số tiền 900.000 đồng sử dụng để đánh bạc. H tham gia đánh nhiều ván có ván thắng, ván thua. Khi bị bắt H có 200.000 đồng, xác định H đang thua số tiền 700.000 đồng.

Lương Trọng K mang theo số tiền 2.770.000 đồng sử dụng để đánh bạc. K đánh nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Khi bị bắt K có 1.810.000 đồng, xác định K đang thua số tiền 960.000 đồng).

Lương Thế D mang theo số tiền 1.230.000 đồng sử dụng để đánh bạc. D đánh nhiều ván có ván thắng, ván thua. Khi bị bắt D có 3.040.000 đồng, xác định D đang thắng số tiền 1.810.000 đồng.

Lương Anh V mang theo số tiền 350.000 đồng sử dụng để đánh bạc. V đánh nhiều ván, có ván thắng, ván thua. Khi bị bắt V có 200.000 đồng, xác định V đang thua số tiền 150.000 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu điều tra có đủ cơ sở xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc ngày 28/9/2021 là 5.250.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định chị Phạm Thị C3 hẹn chị Trần Thị Mai H2 về việc 13 giờ 00 ngày 28/9/2021 đến nhà Lương Xuân H để lấy chim bồ câu (do nhờ chị C3 đặt mua từ trước). Đến 13 giờ cùng ngày, khi chị H2 đến nhà H thì chị C3 ra mở cổng, đưa chị H2 vào trong buồng ngủ nhà H; chị C3 và chị H2 ngồi lên giường trong buồng ngủ nói chuyện, không tham gia đánh bạc. Đến 15 giờ cùng ngày, chị C3 ra ngoài sân để lấy chim bồ câu cho chị H2 thì cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao cùng với Công an xã A đến, bắt quả tang các bị cáo đang đánh bạc như nội dung nêu trên. Ngoài ra, các bị cáo H, K, D, V đã khai nhận chị C3 và chị H2 không tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo.

Qua xác minh, bị cáo Lương Xuân H có quyền sử dụng đất tại Khu X, xã A, huyện Lâm Thao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 724458 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Thao cấp ngày 23/5/2019. Bị cáo Lương Anh V có quyền sử dụng đất tại Khu X, xã A, huyện Lâm Thao theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BH810932 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Thao cấp ngày 28/10/2011. Các bị cáo Lương Trọng K và Lương Thế D đều không có tài sản gì có giá trị.

Đối với Lương Xuân H, ngoài hành vi đánh bạc đã bị khởi tố bị cáo, H còn là chủ nhà. Quá trình điều tra xác định, H không được các bị cáo trả tiền hay hưởng lợi ích vật chất gì khác từ việc để cho các bị cáo đánh bạc trái phép tại nhà của mình nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hành vi gá bạc.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Thế D và Lương Anh V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT - VKSLT ngày 20/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã truy tố các bị cáo, Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Thế D và Lương Anh V về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện lâm Thao giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với H). Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với V); khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự (đối với K); khoản 1 Điều 321; Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (đối với D). Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, xử phạt các bị cáo:

- Lương Xuân H từ 06 đến 08 tháng tù. Bị cáo được trừ đi 03 ngày tạm giữ. (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Lương Anh V từ 06 đến 08 tháng tù. Bị cáo được trừ đi 03 ngày tạm giữ. (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Lương Trọng K từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ là 03 ngày (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021) quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ.

Đề nghị khấu trừ thu nhập đối với bị cáo K là 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/tháng. Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

- Lương Thế D từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lương Xuân H, Lương Trọng K và Lương Anh V;

Đối với Lương Thế D do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), là số tiền các bị cáo đã sử dụng vào đánh bạc thu được tại chiếu bạc.

Cần tịch thu tiêu hủy 52 quân tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu mành kích thước 2m x 1m6 và 01 chăn nhung đỏ có họa tiết kích thước 1m9 x 1m75.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Trước khi tuyên án, cho các bị cáo nói lời nói sau cùng:

Các bị cáo Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Thế D và Lương Anh V đều ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Thao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho các bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.

Về nội dung:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 28/9/2021, tại buồng ngủ nhà của Lương Xuân H, ở Khu X, xã A, Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Thế D, Lương Anh V đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Sâm” được thua bằng tiền bị bắt quả tang với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.250.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao truy tố các bị cáo về tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Vụ án tuy thuộc loại tội ít nghiêm trọng, song hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực hành vi để nhận thức được hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi “Sâm”, sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật gây mất rật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế hạnh phúc gia đình nhưng vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu sài không phải lao động nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội, vì vậy cần phải đưa ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Đối với bị cáo Lương Xuân H không có tiền án nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng bị cáo có 01 tiền sự và có nhân thân xấu. Ngày 26/3/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 234 về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị can Lương Xuân H. Ngày 10/3/2021, Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội Phú Văn thuộc Sở lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận số 403 về việc chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Xuân H. Và tại bản án hình sự phúc thẩm số 140/PT ngày 04/10/1996 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử Lương Xuân H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản của Công dân quy định tại Khoản 1 Điều 155 BLHS 1985. Điều đó chứng tỏ bị cáo bất chấp, coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng cho bị cáo hình ph¹t tù mới có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay bị cáo là lao động chính trong gia đình, mẹ bị cáo bị liệt, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Đối với bị cáo Lương Anh V không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 17/10/2000 bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS 1999 và tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 BLHS 1999. Ngày 01/4/2009 bị Công an huyện Phù Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe tính mạng của người khác; tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 20 ngày 13/1/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao xử Lương Anh V 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo V đã chấp hành xong hình phạt tù và thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm đối với bản án trên. Bị cáo đã không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng cho bị cáo hình ph¹t tù mới có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng bằng khen trong kháng chiến và mẹ đẻ được tặng giấy khen trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo Lương Trọng K không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc đã được xóa án tích. Bị cáo tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không lớn. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến và có anh trai là liệt sỹ, bị cáo Lương Trọng K hiện nay có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang phải chăm sóc mẹ của liệt sỹ tuổi đã cao, sức yếu và bị cáo là người trực tiếp thờ cúng anh trai là liệt sĩ, được chính quyền địa phương xác nhận và bị cáo đã nộp số tiền 1.000.000 đồng để ủng hộ phòng chống dịch Covit - 19 nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự là cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Mặc dù Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đề nghị khấu trừ thu nhập đối với Lương Trọng K là 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)/1 tháng. Nhưng xét thấy, hiện nay bị cáo Lương Trọng K lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập để sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự, cần buộc bị cáo Lương Trọng K phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Lương Thế D chưa có tiền án, tiền sự không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ph¹m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về điều kiện kinh tế và mục đích phạm tội của bị cáo D, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

VÒ h×nh ph¹t bæ sung:

Đối với các bị cáo Lương Xuân H, Lương Anh V có tài sản là quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, các tài sản này là tài sản chung của hộ gia đình đang cùng nhau sinh sống trên thửa đất đó. Ngoài ra, đối với Lương Trọng K, quá trình điều tra xác minh K không có tài sản gì nên cần miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H, V và K là phù hợp.

Đối với bị cáo Lương Thế D do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), là số tiền các bị cáo đã sử dụng vào đánh bạc thu được tại chiếu bạc.

Đối với 52 quân tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu mành kích thước 2m x 1m6 và 01 chăn nhung đỏ có họa tiết kích thước 1m9 x 1m75 cần tịch thu tiêu hủy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2021).

Đối với chị Phạm Thị C3 và chị Trần Thị Mai H2 chỉ hẹn nhau đến nhà Lương Xuân H để lấy chim bồ câu và ngồi trong buồng nhà H để nói chuyện, không tham gia đánh bạc. Do vậy không có căn cứ để xử lý chị C3, chị H2 về tội Đánh bạc theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Thao không xem xét, xử lý đối với chị C3 và chị H2 là phù hợp.

Đối với Lương Xuân H, ngoài hành vi đánh bạc đã bị khởi tố, xét xử, H còn là chủ nhà. Quá trình điều tra xác định, H không được các bị cáo trả tiền hay hưởng lợi ích vật chất gì khác từ việc để cho các bị cáo đánh bạc trái phép tại nhà của mình nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hành vi gá bạc là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với H); khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự (đối với V); khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự (đối với K); khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự (đối với D); điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1] Tuyên bố các bị cáo: Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Anh V và Lương Thế D phạm tội: “Đánh bạc”

[2] Xử phạt:

- Bị cáo Lương Xuân H 06 (Sáu) tháng tù, bị cáo được trừ đi 03 (Ba) ngày tạm giữ (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Bị cáo Lương Anh V 06 (Sáu) tháng tù, bị cáo được trừ đi 03 (Ba) ngày tạm giữ (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lương Xuân H và Lương Anh V.

- Bị cáo Lương Trọng K 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ là 03 ngày (Từ ngày 28/9/2021 đến ngày 01/10/2021) quy đổi = 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại là 17 (Mười bảy) tháng 21 ( Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Lương Trọng K cho UBND xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã A, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo Lương Trọng K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lương Trọng K .

Buộc bị cáo Lương Trọng K phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Bị cáo Lương Trọng K phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lương Trọng K.

- Bị cáo Lương Thế D 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.250.000 đồng (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 52 quân tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu mành kích thước 2m x 1m6 và 01 chăn nhung đỏ có họa tiết kích thước 1m9 x 1m75.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/12/2021).

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lương Xuân H, Lương Trọng K, Lương Anh V, Lương Thế D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị TAND tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ