vanban.org

Bản án 10/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Trường S 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù của bản án số 277/2018/HSST ngày 28/9/2018 của TAND thị xã D, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Võ Trường S chấp hình phạt chung là 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự Võ Trường S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2019/HS-ST
Ngày 16/04/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Quý và Ông Lê Hữu Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2019/TLST-HS ngày 07/03/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-QĐ ngày 02/04/2019 đối với bị cáo:

Võ Trường S; Sinh ngày 07/05/1991; Sinh quán: Xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Trú quán: Xóm H, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông: Võ Trường S; Đã chết và bà: Nguyễn Thị D; Sinh năm 1970, Hiện trú tại: Xã T huyện B tỉnh Bình Phước; Anh chị em ruột: Chỉ mình Võ Trường S. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 29/10/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 474/2010/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Ngày 22/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Bình áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 08/2011/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Ngày 05/02/2013 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 139 xử phạt 36 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 03/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2015, được miễn thi hành án án phí ngày 06/8/2018, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Hoạt động nhân thân: Ngày 19/5/2018 có hành vi Trộm cắp tài sản tại phường Đ, thị xã D tỉnh Bình Dương và ngày 28/9/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã D xử phạt 3 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 277/2018/HSST.

Bị khởi tố bị can ngày 26/3/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Ông Nguyễn Hữu H; Sinh năm: 1966; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, Thị Trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

2. Anh Nguyễn Văn Đ; Sinh năm: 2000; Địa chỉ: Xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đinh Trung H, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

2. Chị Phan Thị Huyền T, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

3. Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Xóm T, xã H huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

4. Anh Trần Văn Nhiệm; Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Xóm 3, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ ngày 25/2/2018 Phan Văn T, sinh năm 1993, trú tại xóm 01, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển xe mô tô EXCITER màu xanh, biển kiểm soát 37N1- 531.37 của mình chở Võ Trường S, sinh năm 1991, trú tại xóm H, xã L, huyện H đi từ khu vực bờ hồ B, Thị Trấn H, huyện H đến đường liên khối thuộc tổ dân phố 6, Thị Trấn H thì phát hiện chiếc xe mô tô Wave A màu đỏ - đen -bạc, biển kiểm soát 38B1 - 117.42 của anh Nguyễn Hữu H đang dựng trước cửa nhà, không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm, bán lấy tiền tiêu xài. S bảo T dừng xe đứng cảnh giới còn mình đi lại chỗ chiếc xe, dùng vam phá khóa hình chữ T mang theo người phá khóa điện, nổ máy lấy trộm xe, rồi hai người chạy hai xe về khu vực cầu Treo thuộc xóm 1, xã H thì dừng lại, Sinh dùng vam phá khóa cốp, lấy cờ lê có sẵn tháo biển kiểm soát vứt xuống lề đường rồi đưa xe lại giấu ở chân cầu rồi cả hai đi về nhà.

Sau khi phát hiện xe bị mất, anh Nguyễn Hữu H nhờ bạn là anh Nguyễn Văn T ở xóm 7, xã G, huyện H làm nghề buôn bán xe máy cũ tìm kiếm giúp. Ngày 28/02/2018, khi nghe tin T và S bán 01 chiếc xe mô tô có đặc điểm giống với xe của anh H bị mất nên T đã thông tin cho anh H, anh H nhờ T mua xe với giá 6.400.000đ, sau đó anh H đưa xe trình báo cho Cơ quan Công an. Số tiền bán xe S chia cho T 300.000 đồng còn lại Sinh tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H ngày 19/3/2018 xác định: Xe mô tô Wave A, màu đỏ - đen - bạc, kiểm kiểm soát 38B1 -117.42 trị giá 10.500.000đ.

Vụ án trên ngày 27/7/2018 Tòa án nhân dân huyện H xử phạt Phan Văn T 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 24/2018/HSPT. Ngày 25/10/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc, xử phạt Phan Văn T 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 139/2018/HSPT.

Lần thứ hai: Vào tối ngày 07/3/2018, sau khi uống rượu tại nhà bạn là anh Trần Văn N, sinh năm 1993 ở xóm 03, xã H, huyện H xong, do không có xe nên S nhờ N đưa mình về, N đồng ý rồi điều khiển xe mô tô Wave A, màu trắng, biển kiểm soát 38B1-098.27 của mình chở S đến khu vực ngã tư đường liên xã H – huyện H thuộc xóm 4, xã H thì gặp mấy người bạn của N đi chơi về, nên dừng xe lại nói chuyện với nhau, do trước đó bạn của N thấy có đôi nam nữ đang ngồi tâm sự với nhau tại khu vực cánh đồng ngô ở gần đó nên rủ N và S đến để trêu ghẹo. Khoảng 22 giờ khi mọi người đến nơi thì không thấy ai nữa mà chỉ một thấy chiếc xe mô tô SIRIUS màu đỏ - đen, biển kiểm 38B1 - 124.98 của anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2000, trú tại xóm 4, xã H dựng bên lề đường nên các bạn của N bỏ đi, còn N và S ở lại, lúc này S nảy ra ý định lấy trộm xe để bán lấy tiền tiều xài, nên lặng lẽ đi lại chỗ chiếc xe, dùng vam phá khóa hình chữ T mang theo mở khóa điện, nổ máy lấy trộm xe chạy về nhà cất giấu, còn N điều khiển xe về nhà mình.

Ngày hôm sau, Sinh đưa xe mô tô lấy trộm đến gửi tại nhà anh Đinh Trung H ở xóm L, xã H, huyện H, đến ngày 09/3/2018 Sinh bán chiếc xe mô tô lấy trộm cho chị Phạm Thị H trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình với giá 4.400.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H ngày 19/3/2018 xác định: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ - đen , kiểm kiểm soát 38B1 - 124.98 trị giá 14.900.000đ.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Võ Trường S bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 19/05/2018 S bị Công an thị xã D, tỉnh B bắt giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/9/2018 bị TAND thị xã D xử phạt 3 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngày 24/12/2018 Võ Trường S bị trích xuất từ trại giam An Phước - Bộ Công an về trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh để xử lý về hành vi trộm cắp tài sản ngày 25/02/2018 và ngày 07/3/2018 tại địa bàn huyện H.

Vật chứng thu giữ:

-Xe mô tô EXCITER màu xanh, biển kiểm soát 37N1 - 531.37, số khung 443435, số máy 463966 và Xe mô tô Wave A, màu đỏ - đen - bạc, kiểm kiểm soát 38B1 - 117.42 . Đã xử lý trong vụ án Phan Văn T - Trộm cắp tài sản.

-Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ - đen , kiểm kiểm soát 38B1-124.98 (Do Phạm Thị H giao nộp). Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu H yêu cầu bồi thường 6.400.000đ (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng). Đã giải quyết trong vụ án Phan Văn T - Trộm cắp tài sản; Anh Nguyễn Văn Đ và chị Phạm Thị H không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-HK ngày 01/03/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Võ Trường S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Trường S về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự ; Xử phạt bị cáo Võ Trường S từ 24 đến 30 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 06 năm tù. Biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ ở bị cáo số tiền 10.500.000đ. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Trường S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong hai ngày 25/02/2018 và ngày 07/3/2018 Vừ Trường S đó 02 lần trộm cắp 02 xe mô tô gây thiệt hại 25.400.000 đồng. Trong đó 01 lần cùng Phan Văn T lấy trộm 01 chiếc tô Wave A màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 38B1 - 117.42 của anh Nguyễn Hữu H ở thị trấn H, huyện H với vai trũ là người khởi xướng và là người thực hành tích cực gây thiệt hại 10.500.000 đồng và 01 lần một mình thực hiện hành vi lấy trộm 01 chiếc xe mô tô Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm kiểm soát 38B1-124.98 của anh Nguyễn Văn Đ ở xóm H, huyện H, gây thiệt hại 14.900.000 đồng. S được hưởng lợi 10.500.000 đồng, T được hưởng lợi 300.000 đồng.

Về nhân thân: Bị cáo S thực hiện hành vi phạm tội trong khi về nhân thân đã ba lần bị kết án mới chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích với lỗi cố ý trực tiếp nên thuộc trường hợp „tái phạm nguy hiểm‟, do đó các hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng số 08/CT-VKS-HK ngày 01/03/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Võ Trường S là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, nên áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù là phù hợp nên được chấp nhận.

Trong vụ án này có đối tượng Đinh Trung H là người cho Võ Trường S và Phan Văn T gửi xe Môtô lấy trộm; Phan Thị H là người mua xe Mô tô do S lấy trôm nhưng không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý. Còn Trần Văn N là người đi cùng S đến khu vực xóm 4 xã H huyện H, chứng kiến việc S lấy trộm xe Mô tô, nhưng không có hành động gì, giữa N và S không có bàn bạc gì trong việc thực hiện hành vi tội phạm, cũng không được hưởng lợi gì nên cũng không xử lý về hành vi trộm cắp tài sản với vai trò đồng phạm trong vụ án; Sau đó sợ liên lụy ngày 10/03/2018 Nhiệm đã đến Công an xã H cung cấp toàn bộ thông tin phục vụ cho việc điều tra vụ án, nên không xem xét xử lý về hành vi không tố giác tội phạm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh truy tố, đề nghị mức hình phạt, về phần dân sự, án phí là có căn cứ, phù hợp. Tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến gì tranh luận nên HĐXX chấp nhận.

Các biện pháp tư pháp:

- Trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu gì nên hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Bị cáo được hưởng lợi từ việc bán xe mô tô của anh Nguyễn Hữu H và tiền bán xe mô tô của anh Nguyễn Văn Đ, tổng số tiền thu lợi từ việc bán hai mô tô là 10.500.000đ. Do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền này của bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

-

Xe mô tô EXCITER màu xanh, biển kiểm soát 37N1 - 531.37, số khung 443435, số máy 463966 và Xe mô tô Wave A, màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 38B1 - 117.42 . Đã xử lý trong vụ án Phan Văn T - Trộm cắp tài sản.

-

Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu đỏ - đen , kiểm kiểm soát 38B1 - 124.98 (Do Phạm Thị H giao nộp). Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Các vật chứng trên của vụ án đã được Cơ quan điều tra trả lại cho các chủ sở hữu theo đúng quy định tại b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52; khoản 1 Điều 56; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử :

1.Tuyên bố bị cáo Võ Trường S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Trường S 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 (ba) năm tù của bản án số 277/2018/HSST ngày 28/9/2018 của TAND thị xã D, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Võ Trường S chấp hình phạt chung là 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/5/2018.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước ở bị cáo số tiền do phạm tội mà có: 10.500.000đ (mười triệu năm trăm ngàn đồng.

4. Về án phí : Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ