vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/03/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Ngọc T, ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ch Ong Th H. Sửa một phần quyết đ nh của bản án s thẩm số 52/2018/HNGĐ-ST ngày 10, 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Ngọc T và ch Ong Th H. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009 cho ch Ong Th H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ngô Ngọc T có quyền thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản. Cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Ngô Ngoc T xin ly hôn chị Ong Thị H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Ngọc T, ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ch Ong Th H. Sửa một phần quyết đ nh của bản án s thẩm số 52/2018/HNGĐ-ST ngày 10, 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2019/HNGĐ-PT
Ngày: 25-3-2019
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Dũng.

Ông Nguyễn Hữu Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Th Th y Dư ng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: ng Nguyễn Đ nh Dũng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2018/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đ nh”.

Do bản án dân sự s thẩm số 52/2018/HNGĐ-ST ngày 10, 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh b kháng cáo.

Theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2019/QĐ-PT ngày 07-01-2019 giữa các đư ng sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Ngọc T, sinh năm 1979 (có mặt).

Đ a chỉ: Số 16, khu 6, phường T, thành phố BN, tỉnh BN.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Anh N, sinh năm 1971 (có mặt).

Đ a chỉ: Khu T, phường K, thành phố BN, tỉnh BN.

- Bị đơn: Ch Ong Th H, sinh năm 1983 (có mặt).

Đ a chỉ: Số 50 đường NGT, Khu 2, phường S, thành phố BN, tỉnh BN.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Vũ Quang D, Văn phòng Luật sư QD & cộng sự – Đoàn Luật sư tỉnh BN. Đ a chỉ: Số 8, Chợ T, phường Đ, th xã T, tỉnh BN C mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. ng Ngô Văn C, sinh năm 1946 (C mặt).

2. Bà Đinh Th L, sinh năm 1948 (C mặt).

C ng đ a chỉ: Số 16, khu 6, phường T, thành phố BN, tỉnh BN.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông C, bà L: Anh Nguyễn Anh N, sinh năm 1971 (có mặt).

Đ a chỉ: Khu T, phường K, thành phố BN, tỉnh BN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án s thẩm và các tài liệu c trong hồ s th nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là anh Ngô Ngọc T trình bày: Anh kết hôn c ng ch Ong Th H vào tháng 12/2008, trước khi kết hôn hai bên có được tự do t m hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố BN. Sau khi kết hôn ch H c ng anh sinh sống tại gia đ nh, vợ chồng hòa thuận đến tháng 6/2012 th ch H học tiếng để đi lao động nước ngoài, đến tháng 3/2013 ch H chính thức đi lao động tại Nhật Bản với thời gian là 03 năm, đến tháng 3/2016 ch H về nước phụ giúp gia đ nh kinh doanh tạp hóa cho đến nay. Vợ chồng anh ch bắt đầu mâu thuẫn từ tháng 4/2016 đến nay. Đến ngày 29/8/2017 thì ch H tự ý mang con đi n i khác sinh sống. Từ khi đi lao động tại Nhật Bản về th ch H thường xuyên c những biều hiệu bất thường trong quan hệ xã hội và trong kinh doanh, vợ chồng hay bất đồng quan điểm và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nay anh đề ngh Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn ch H.

Về con chung: Vợ chồng c 01 con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009, hiện cháu L đang ở c ng ch H. Khi ly hôn anh xin được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu ch H phải g p phí tổn nuôi con.

Về tài sản chung: Tại đ n khởi kiện anh T tr nh bày vợ chồng c 02 sổ tiết kiệm tr giá 400.000.000đ đứng tên anh Ngô Ngọc T. Tại bản tự khai đề ngày 10/8/2017 anh T khai nhận tài sản chung của vợ chồng bao gồm: Hàng tạp h a giá tr khoảng 700.000.000đ, 01 xe máy tr giá 30.000.000đ, 01 tivi tr giá 15.000.000đ, 01 tủ lạnh tr giá 15.000.000đ tuy nhiên anh T đã ủy quyền cho người đại diện là anh Nguyễn Anh N xin rút yêu cầu phân chia tài sản chung.

Anh N người đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n tr nh bày: Vợ chồng anh T ch H có 01 con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009, hiện nay cháu L đang ở c ng ch H, nay anh T ch H ly hôn đề ngh Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu ch H phải g p phí tổn nuôi con. Hiện anh T đang kinh doanh thu nhập hàng tháng là 10.000.000đ/ tháng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Anh T ch H không c tài sản g .

Phía bị đơn chị Ong Thị H trình bày: Ch kết hôn c ng anh T vào tháng 10/2008 trước khi kết hôn đôi bên có được tự do t m hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố BN. Sau khi kết hôn ch về gia đ nh anh T làm dâu ngay, vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và kinh doanh, anh T còn đánh chửi ch phải đi điều tr tại bệnh viện và báo chính quyền đ a phư ng giải quyết. Nay anh T có đ n xin ly hôn thì ch H đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng c 01 con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009 hiện nay cháu đang ở c ng ch . Khi ly hôn ch xin được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh T phải g p phí tổn .

Về tài sản: Năm 2013, Vợ chồng ch xây được một ngôi nhà 03 tầng và tum, với diện tích là 90m2/1 tầng, vợ chồng ch là người đứng ra xây dựng hết khoảng 1.400.000.000đ trong đ bố mẹ chồng ch là ông C, bà L c đ ng g p 300.000.000đ còn lại là do vợ chồng ch bỏ ra. Nguồn tiền trên là do ch đi lao động tại Nhật Bản gửi về cho anh T. cụ thể ch đã gửi 632.450.000đ trong thời gian ch đi Nhật Bản, những lần gửi tiền về người nhận đều là anh Ngô Ngọc T. Đối với thửa đất là của ông C, bà L chứ không phải của vợ chồng anh ch . Nay ch yêu cầu ông C, bà L phải c nghĩa vụ trích chia công sức đ ng g p xây dựng ngôi nhà 03 tầng được xây dựng trên thửa đất của ông C, bà L.

Ngoài ra vợ chồng c 01 cửa hàng tạp h a: Riêng tiền hàng là 700.000.000đ , camera, quạt bàn, máy tính, máy in, máy tính tiền, tủ bảo quản, 02 điều hòa, 01 tủ lạnh, 01 tivi, 01 bộ giàn âm ly, 01 bộ bàn ghế, 01 máy giặt, 01 bình nước n ng năng lượng mặt trời, 01 bộ cẩu hàng, 01 điện thoại di động, ngoài ra vợ chồng còn 2 sổ tiết kiệm với tổng số tiền là 400.000.000đ (số tiền trên là do vợ chồng kinh doanh mà có), vợ chồng còn c 01 chiếc xe máy hiệu Air blade đăng ký mang tên anh T mua vào tháng 7/2016 giá là 39.600.000đ. Ngoài ra khi ch đi Nhật về nước còn c số tiền 20.000.000đ và tiền bảo hiểm 41.000.000đ (số tiền này do anh T quản lý và chi tiêu hết . Nay ly hôn ch đề ngh được chia đôi tài sản chung và ch xin lấy bằng tiền. Toàn bộ tài sản chung này đều do ch gửi tiền về trong thời gian ch lao động tại Nhật Bản.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông C và bà L do anh N là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông C, bà L xây dựng gia đ nh cho con trai là anh Ngô Ngọc T và ch Ong Th H vào tháng 10/2008, trong thời gian ch H về làm dâu gia đ nh ông C, bà L c xây dựng được 01 ngôi nhà 3 tầng tổng diện tích là 287,7 m2. Hợp đồng xây dựng là do ông C bà L trực tiếp đứng ra ký với giá là 750.000đ/m2 xây từ m ng lên, nguồn kinh phí làm nhà là do ông C, bà L trực tiếp bỏ ra, ch H không c công sức đ ng góp gì đối với khối tài sản trên. Nay ch H yêu cầu ông C, bà L phải c nghĩa vụ trích chia công sức thì ông C, bà L không đồng ý. Ch H cho rằng c gửi tiền từ nước ngoài về để xây dựng nhà nhưng ông C, bà L khẳng đ nh không nhận được số tiền mà ch H gửi về để xây dựng ngôi nhà trên.

Ngày 28/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tiến hành xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá tài sản là ngôi nhà 04 tầng xây dựng trên thửa đất số 145, tờ bản đồ số 07 tại Khu 6, phường T, thành phố BN, diện tích 01 sàn xây dựng là 84,7m2 tổng diện tích xây dựng là 287,7m2 c giá tr là 1.150.000.000đ Một tỷ một trăm năm mư i triệu đồng .

Ngày 21/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã tiến hành đ nh giá tài sản bao gồm: 01 tủ lạnh tr giá 7.974.000đ, 01 ti vi LG 49 inch tr giá 7.980.000đ, 01 xe máy Honda Air Blade tr giá 33.600.000đ, 01 tủ + bàn bếp giá tr 18.750.000đ toàn bộ tài sản c tổng giá tr là 68.304.000đ Sáu tám triệu ba trăm linh bốn ngh n đồng .

Tại bản án s thẩm số 52/2018/HNGĐ-ST ngày 15/10/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã căn cứ vào các Điều 33, 38, 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đ nh; Điều 143, 144, 145, 147, 155, 156, 157, 158, 163, 164, 165, 166, 227, 228, 235, 264 , 266, 267 Bộ luật tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử, chấp nhận đ n khởi kiện của anh Ngô Ngọc T.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Ngọc T và ch Ong Th H.

Về con chung: Giao cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009 cho ch H tiếp tục nuôi dưỡng, phí tổn không đặt ra giải quyết.

Về tài sản: Xác nhận quầy hàng tr giá 700.000.000đ và 02 sổ tiết kiệm là 400.000.000đ, 01 tủ lạnh tr giá 7.974.000đ, 01 ti vi LG 49 inch tr giá 7.980.000đ, 01 xe máy Honda Air Blade tr giá 33.600.000đ, 01 tủ + bàn bếp giá tr 18.750.000đ. Tổng cộng 700.000.000đ + 400.000.000đ + 68.304.000đ = 1.168.304.000đ là tài sản chung của vợ chồng anh T, ch H.

Chia cho anh Ngô Ngọc T sở hữu toàn bộ quầy hàng là 700.000.000đ, 02 sổ tiết kiệm 400.000.000đ, 01 tủ lạnh 7.974.000đ, 01 ti vi LG 49 inch 7.090.000đ, 01 xe máy Honda Air Blade 33.600.000đ, 01 tủ + bàn bếp 18.750.000đ. Tổng tài sản là 1.168.304.000đ, nhưng phải trích trả cho ch Ong Th H số tiền là 584.152.000đ Năm trăm tám mư i bốn triệu một trăm năm mư i hai nghìn đồng chẵn) chênh lệch tài sản.

Bác yêu cầu của ch Ong Th H về trích chia công sức.

Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đư ng sự.

Ngày 23-10-2018, ch Ong Th H c đ n kháng cáo một phần quyết đ nh của bản án s thẩm về phần trích chia công sức của ch đối với ngôi nhà xây trên đất của vợ chồng ông C, bà L.

Ngày 30-10-2018, anh Ngô Ngọc T c đ n kháng cáo đề ngh cấp phúc thẩm xem xét các vấn đề: Về con chung, đề ngh cho anh được nuôi con chung là cháu Ngô Phư ng L. Về tài sản chung, đề ngh bác yêu cầu chia tài sản chung của ch H.

Ngày 30-10-2018, ông Ngô Văn C và bà Đinh Th L kháng cáo, đề ngh Tòa án bác yêu cầu chia tài sản chung của ch H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đ n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đư ng sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, Người đại diện theo ủy quyền của anh T, ông C, bà L là anh Nguyễn Anh N cho rằng bản án s thẩm chưa làm r về tr giá quầy hàng tạp h a nhưng đã xác đ nh tr giá là 700.000.000 đồng v số tiền này là do anh T, ch H tự kê khai.

Thứ hai về số tiền tiết kiệm 400.000.000 đồng là tiền của ông C, bà L chứ không phải của anh T, ch H.

Thứ ba, đối với yêu cầu của ch H đòi chia công sức đối với ngôi nhà xây trên đất của ông C, bà L th anh N cho rằng trong thời gian ông C, bà L xây dựng th ch H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, trong thời gian 03 năm lao động ở Nhật Bản ch H không c đ ng g p g vào việc xây dựng nhà, việc xây dựng nhà là do ông C, bà L và anh T đ ng g p. Ch H tr nh bày c gửi tiền về nhưng số tiền ch H gửi chưa được làm r .

Từ đ , cho thấy anh T, ch H không c khối tài sản chung như bản án s thẩm đã xác đ nh và ch H không c công sức đối với ngôi nhà xây trên đất của ông C, bà L đề ngh Hội đồng xét xử bác yêu cầu chia tài sản chung của ch H.

Về phía Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ch H là Luật sư Vũ Quang D tr nh bày cho rằng:

Thứ nhất về phần tài sản chung của ch H và anh T như bản án s thẩm đã xác đ nh là c căn cứ bởi cả ch H và anh T đã thừa nhận c các tài sản chung trên từ lúc anh T làm đ n khởi kiện xin ly hôn.

Thứ hai, đối với công sức về xây dựng ngôi nhà trên đất của ông C, bà L c sự đ ng g p của ch H, anh T được thể hiện trong các h a đ n, chứng từ xây dựng anh T là người đứng ra thanh toán, thời k này hôn nhân của anh ch vẫn tồn tại và ch H c gửi tiền về cho anh T để lấy kinh phí xây nhà. Điều này còn được ghi nhận tại băng ghi âm cuộc họp gia đ nh anh T c ch gái anh T cũng thừa nhận ngôi nhà xây trên đất của ông C, bà L c sự đ ng g p công sức của ch H.

V vậy, Luật sư D đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ch H. Sửa bản án s thẩm. Căn cứ Điều 61 Luật hôn nhân, gia đ nh buộc ông C, bà L phải trích trả cho ch H một phần tr giá ngôi nhà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ lúc thụ lý đến lúc xét xử vụ án là đúng với quy đ nh của pháp luật; Các đư ng sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của m nh. Về đường lối giải quyết vụ án, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T, ông C, bà L. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ch H về việc trích chia công sức đối với ngôi nhà xây trên đất của ông C, bà L. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Sửa bản án s thẩm. Buộc ông C, bà L phải trích trả công sức đ ng g p cho ch H và anh T mỗi người là 230.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Về tố tụng: Xét đ n kháng cáo của ch Ong Th H, anh Ngô Ngọc T, ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L nộp trong thời hạn quy đ nh là hợp lệ nên cần được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Ngọc T và ch Ong Th H kết hôn với nhau vào tháng 10/2008 tại UBND phường T, thành phố BN, tỉnh BN trên c sở tự nguyện, không ai ép buộc ai và không b ai ép buộc nên quan hệ hôn nhân giữa anh T, ch H là hợp pháp.

Quá tr nh chung sống, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 7/2016 th phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không đồng nhất quan điểm trong hoạt động kinh doanh, nay anh T có đ n xin ly hôn ch H đồng ý. Tòa án cấp s thẩm đã công nhận sự thuận t nh ly hôn giữa anh T và ch H, các đư ng sự không kháng cáo nội dung này nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Về con chung: Vợ chồng anh T, ch H có 01 con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009. Ly hôn, anh T và ch H đều c nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tòa án cấp s thẩm quyết đ nh giao con chung cho ch H trực tiếp chăm s c nuôi dưỡng. Xét thấy, kể từ tháng 7/2017 đến nay cháu L vẫn chung sống c ng ch H, cuộc sống của cháu được đảm bảo ổn đ nh và cần có sự chăm s c của người mẹ. Mặt khác, hiện cháu L đã trên 07 tuổi v vậy cần tôn trọng ý kiến của cháu L là nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu L c nguyện vọng được ở c ng mẹ. Anh T kháng cáo đề ngh được trực tiếp nuôi con chung nhưng anh T không đưa ra được căn cứ chứng minh cho yêu cầu của m nh. V vậy, không c căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, quyết đ nh của Tòa án cấp s thẩm là c căn cứ cần được giữ nguyên.

Về tài sản chung của vợ chồng:

Tại đ n khởi kiện và bản tự khai ngày 10/8/2017 anh T cũng thừa nhận về tài sản chung hiện tại của vợ chồng gồm: Hàng tạp h a tr giá khoảng 700.000.000đ; 01 xe máy tr giá khoảng 30.000.000đ; 01 ti vi LG tr giá khoảng 15.000.000đ; 01 tủ lạnh Samsung tr giá khoảng 15.000.000đ. Tổng giá tr tài sản trên là khoảng 760.000.000đ. Đồng thời vợ chồng c hai sổ tiết kiệm tổng tr giá 400.000.000đ mang tên anh T. Toàn bộ tài sản trên đều do anh T trực tiếp quản lý. Ngoài ra trong thời gian đi xuất khẩu lao động nước ngoài ch H c gửi cho anh T số tiền là 292.000.000đ để anh nuôi con chung. Nay ly hôn anh T đồng ý trích trả một phần tài sản trên và trả bằng tiền mặt. Tuy nhiên sau đ , anh T và người đại diện theo ủy quyền của anh đã rút yêu cầu chia tài sản chung và cho rằng vợ chồng anh T, ch H không c tài sản chung g , toàn bộ tài sản trên là của bố mẹ anh T là ông C, bà L. Ch H xác nhận vợ chồng c những tài sản chung như anh T kê khai và ch yêu đề ngh Tòa án chia theo quy đ nh của pháp luật.

Xét thấy, toàn bộ tài sản trên được h nh thành trong thời k hôn nhân, toàn bộ tài sản trên đều do anh T trực tiếp đứng mua bán, xác lập quyền sở hữu. Anh T, ch H đều xác nhận vợ chồng c những tài sản chung như trên và đều yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn nhưng sau đ anh T rút yêu cầu chia tài sản chung và cho rằng toàn bộ tài sản trên là của bố mẹ đẻ anh là ông C, bà L. Tuy nhiên, cả anh T, ông C, bà L đều không đưa ra được căn cứ chứng minh.

Tòa án cấp s thẩm c căn cứ khi xác nhận: Vợ chồng anh T, ch H có 01 cửa hàng tạp h a tr giá là 700.000.000đ và một số tài sản đồ d ng sinh hoạt khác gồm: Tủ lạnh, ti vi, xe máy, bộ dàn hát Karaoke, tủ + bàn bếp tr giá 68.304.000đ theo biên bản đ nh giá tài sản ngày 21/8/2018. Ngoài ra vợ chồng còn c 02 sổ tiết kiệm là 400.000.000đ. Tổng cộng tài sản của anh T, ch H là 700.000.000đ + 400.000.000đ + 68.304.000đ = 1.168.304.000đ. Về công sức đ ng góp nên khối tài sản trên của anh T, ch H ngang nhau. Như vậy, quyết đ nh của bản án s thẩm là c căn cứ cần được giữ nguyên. Kháng cáo của anh T, ông C, bà L là không c căn cứ nên không được chấp nhận.

Đối với tài sản là ngôi nhà 04 tầng gồm cả tum xây dựng trên thửa đất số 145, tờ bản đồ số 07 tại Khu 6, phường T, thành phố BN. Tòa án cấp s thẩm đã bác yêu cầu trích chia công sức của ch H đối với ngôi nhà. Xét thấy, Theo tài liệu chứng cứ c trong hồ s th ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất mang tên hộ ông Ngô Văn C, các bên cũng xác nhận thửa đất này là tài sản của ông C, bà L không phải tài sản chung của vợ chồng anh T, ch H. Ông C, bà L là người ký hợp đồng xây dựng ngôi nhà. Theo các tài liệu mà ch H cung cấp th các h a đ n mua hàng để hoàn thiện và xây dựng ngôi nhà như: S n, đồ nội thất, cửa, cửa kính... đều đứng tên anh T. Anh T cũng đ ng g p công sức trong quá tr nh xây dựng ngôi nhà. H n nữa ngôi nhà được xây dựng vào năm 2013. Trong thời gian này, ch H đang lao động ở nước ngoài nhưng vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh T. V vậy, cần phải xác đ nh ngôi nhà c công sức đ ng g p của anh T, ch H, ông C, bà L. Tòa án cấp s thẩm cho rằng trong thời gian xây dựng ngôi nhà ch H đang ở nước ngoài, số tiền ch gửi về cho anh T được xác đ nh là tài sản chung của vợ chồng như tiền quầy hàng, sổ tiết kiệm và một số đồ d ng sinh hoạt khác, ch H và anh T không sinh hoạt chung cùng gia đ nh ông C bà L nên không chấp nhận yêu cầu trích chia công sức cho ch H là không có căn cứ. Kháng cáo của ch H về yêu cầu trích chia công sức là c căn cứ cần được chấp nhận. V vậy cần phải sửa một phần quyết đ nh của bản án s thẩm.

Về tỷ lệ trích chia công sức, do ngôi nhà được xây dựng trên thửa đất của ông C, bà L nên cần giao ngôi nhà cho ông C, bà L sở hữu nhưng c nghĩa vụ phải trích chia công sức cho ch H. Xét về công sức đ ng góp thì ông C, bà L là người đứng ra ký hợp đồng, xây dựng ngôi nhà, c công sức đ ng g p nhiều h n anh T, ch H nên được 60% giá tr ngôi nhà theo kết quả đ nh giá. Anh T, ch H được hưởng 40% giá tr ngôi nhà, công sức đ ng g p của anh T và ch H được xác đ nh là ngang nhau. V vậy, ch H được hưởng 20% giá tr ngôi nhà tư ng đư ng với số tiền 230.000.000đ Hai trăm ba mư i triệu đồng . Số tiền này ông C, bà L có nghĩa vụ trích trả cho ch H.

Đối với phần công sức 20% giá tr ngôi nhà của anh T do anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét buộc ông C, bà L phải trích trả cho anh T sau này nếu anh T c yêu cầu s được xem xét trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Anh T, ông C, bà L phải ch u án phí dân sự phúc thẩm. Ch H không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 của UBTVQH quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, quyết đ nh:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Ngọc T, ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ch Ong Th H. Sửa một phần quyết đ nh của bản án s thẩm số 52/2018/HNGĐ-ST ngày 10, 15/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Áp dụng Điều 33, 38, 55, 59, 61, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đ nh; Điều 143, 144, 145, 147, 155, 156, 157, 158, 163, 164, 165, 166, 227, 228, 235, 264 , 266, 267 Bộ luật tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Ngô Ngọc T và ch Ong Th H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Phư ng L, sinh ngày 24/5/2009 cho ch Ong Th H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ngô Ngọc T có quyền thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung:

3.1. Xác nhận quầy hàng tr giá 700.000.000đ và 02 sổ tiết kiệm là 400.000.000đ, 01 tủ lạnh tr giá 7.974.000đ, 01 ti vi LG 49 inch tr giá 7.980.000đ, 01 xe máy Honda Air Blade tr giá 33.600.000đ, 01 tủ + bàn bếp tr giá 18.750.000đ. Tổng giá tr là 1.168.304.000đ Một tỷ, một trăm sáu mư i tám triệu, ba trăm linh bốn ngh n đồng là tài sản chung của vợ chồng anh Ngô Ngọc T, ch Ong Th H.

Giao cho anh Ngô Ngọc T được sở hữu toàn bộ quầy hàng tr giá 700.000.000đ, 02 sổ tiết kiệm 400.000.000đ, 01 tủ lạnh 7.974.000đ, 01 ti vi LG 49 inch 7.090.000đ, 01 xe máy Honda Air Blade 33.600.000đ, 01 tủ + bàn bếp 18.750.000đ. Tổng tr giá tài sản là 1.168.304.000đ Một tỷ, một trăm sáu mư i tám triệu, ba trăm không bốn ngh n đồng nhưng phải trích trả cho ch Ong Th H số tiền là 584.152.000đ Năm trăm tám mư i bốn triệu một trăm năm mư i hai nghìn đồng) chênh lệch về tài sản.

Ch Ong Th H được nhận số tiền 584.152.000đ Năm trăm tám mư i bốn triệu một trăm năm mư i hai nghìn đồng) do anh Ngô Ngọc T trích trả.

3.2. Xác nhận ngôi nhà 04 tầng xây dựng trên thửa đất số 145, tờ bản đồ số 07 tại Khu 6, phường T, thành phố BN mang tên hộ ông Ngô Văn C thuộc quyền sở hữu chung của ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L, anh Ngô Ngọc T, ch Ong Th H. Giao cho ông Ngô Văn C và bà Đinh Th L được sở hữu ngôi nhà nhưng c nghĩa vụ trích trả công sức đ ng g p cho ch Ong Th H số tiền 230.000.000đ Hai trăm ba mư i triệu đồng .

Ch Ong Th H được nhận số tiền 230.000.000đ Hai trăm ba mư i triệu đồng do ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L trích trả.

4. Về án phí:

4.1. Anh Ngô Ngọc T phải ch u 300.000đ án phí ly hôn s thẩm và 27.366.000đ án phí chia tài sản chung. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0000253 ngày 24/7/2017 và 5.000.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0000255 ngày 26/7/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Anh T còn phải nộp số tiền 18.366.000 đồng.

Ch Ong Th H phải ch ụ 36.425.000đ án phí chia tài sản chung. Xác nhận ch H đã nộp 26.655.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0000380 ngày 03/10/2017 và 300.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0005046 ngày 23/10/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh. Ch H còn phải nộp số tiền 9.470.000 đồng.

4.2. Anh Ngô Ngọc T, ông Ngô Văn C, bà Đinh Th L mỗi người phải ch u 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận anh T, ông C, bà L đã nộp mỗi người 300.000đ theo biên lai thu số AA/2017/0005055, AA/2017/0005054, AA/2017/0005053 ngày 31/10/2018 c ng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Kể từ khi bản án c hiệu lực pháp luật, người được thi hành án c đ n đề ngh thi hành án nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành th còn phải ch u lãi suất theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự tư ng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ