vanban.org

Bản án 10/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 17/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

Áp d ng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 B luật hình Xử phạt bị Phạm Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ng y Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp t i sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2018/ HSST
Ngày:17/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Ngân

2. Ông Nguyễn Đức Đẹp

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Tuân - Cán B Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Trang – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại tr s To án nh n d n th nh phố

Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 408/2017/HSST ngày 13 tháng 12 năm 2017, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 300/2017/HSST-QĐ ng y 28 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Văn B – Sinh năm: 1988; Nơi ĐKNKTT : Thôn Đ, xã D, huyện T, tỉnh

Thanh Hóa; Chỗ : Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ văn hóa: 0/12; D n tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Văn L (chết); Mẹ: Lưu Thị H, sinh năm: 1950.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nh n th n: Ng y 27/11/2007, bị Tòa án nh n d n huyện T, Thanh Hóa ban

h nh bản án số 36/2007/HSST về tội “Cướp giật t i sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 BLHS, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách 12 tháng.

Bị cáo bị tạm giam từ ng y 23/8/2017 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại : Ông K, sinh năm: 1991; Quốc tịch: Nga

Chỗ : 7G/4 H, phường L, th nh phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ, nghĩa vụ liên quan :

1. B Võ Thị Hương T, sinh năm: 1979

Chỗ : 6/3G B, phường P, th nh phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1971

Chỗ : 15B H, phường L, th nh phố Nha Trang; vắng mặt tại phiên tòa.

*Người làm chứng: Ông Đinh Văn K, sinh năm: 1965

Chỗ : Tổ d n phố P, thị trấn D, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

V o khoảng 21 giờ ng y 22/8/2017, Phạm Văn B đi bộ đến khu vực phường

L, th nh phố Nha Trang, xem ai để t i sản sơ h thì trộm cắp. Khi đến trước khách sạn La Suisse, tại 34 T, phường L, th nh phố Nha Trang, B thấy 01 xe máy hiệu Mio, biển kiểm soát: 79H2-7723 của anh K, Quốc tịch: Nga, dựng trước khách sạn v không có người trông coi nên B đến lấy xe máy dắt đi được một đoạn thì gặp một người sửa xe máy (không rõ nh n th n lai lịch) ngồi vỉa hè nên B nhờ phá khóa để nổ máy, rồi điều khiển xe bỏ đi. Đến khoảng 04 giờ ng y 23/8/2017, B điều khiển xe máy đến ngã ba T, huyện D, Khánh Hòa gặp ông Đinh Văn K (l người chạy xe thồ) thì B hỏi ông K mua xe máy không, ông K hỏi “Bao nhiêu tiền, có giấy tờ không”, B trả lời xe không có giấy tờ, bán với giá 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Ông K nghi ngờ l xe máy trộm cắp nên nói B đứng chờ để về lấy tiền. Sau đó ông K đến Công an thị trấn D trình báo, Công an thị trấn D đã tiến h nh đưa B và xe máy về tr s để l m việc.

Tại cơ quan Công an B khai nhận to n bộ h nh vi trộm cắp nêu trên v khai

nhận v o cuối tháng 6/2017, B đến nh b H (chưa xác định được lai lịch) Xóm 4, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa lấy trộm được số tiền 23.000.000 đồng v 01 xe máy sau đó bỏ trốn v o Đồng Nai.

Tại biên bản định giá t i sản số 261/TCKH ng y 25/08/2017 của Hội đồng

định giá t i sản trong tố t ng hình sự xác định: Xe máy Yamaha-Mio (BKS: 79H2-7723) có giá trị l : 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Tại bản Cáo trạng số 253/CT-VKS ngày 25 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm

sát nh n d n th nh phố Nha Trang truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của B luật Hình sự.

Đối với h nh vi trộm cắp t i sản tại Thanh Hóa của Phạm Văn B, Cơ quan

cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Nha Trang đã thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Nha Trang vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn B về tội “Trộm cắp t i sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 138 B luật Hình sự, điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B; xử phạt bị cáo Phạm Văn B mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y tạm giam 23/8/2017. Về trách nhiệm d n sự: người bị hại Ông K vắng mặt, nên tách ra th nh v án d n sự khác khi người bị hại có đơn yêu cầu; tuyên về án phí v quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B thừa nhận to n B h nh vi phạm tội của

mình v xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm tr về l m lại cuộc đời.

Căn cứ v o các chứng cứ v t i liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ v o

kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ s xem xét đầy đủ, to n diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo v những người tham gia tố t ng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ v án đã được

tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng:

Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại anh K, người có quyền lợi nghĩa v liên

quan: B Võ Thị Hương T v ông Nguyễn Văn B, người l m chứng: Ông Đinh Văn K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của họ không l m ảnh hư ng đến việc xét xử h nh vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử tiếp t c xét xử v án theo thủ t c chung.

Về nội dung v án:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn B đã khai nhận: v o khoảng 21 giờ ng y

22/8/2017, bị cáo đã có h nh vi lén lút trộm 01 xe máy hiệu Mio, biển kiểm soát: 79H2-7723 của anh K, Quốc tịch: Nga, dựng trước khách sạn La Suisse, tại 34 T, phường L, th nh phố Nha Trang, không có người trông coi. Giá trị t i sản m bị cáo trộm cắp l : 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận tin báo; lời khai của

người bị hại, người l m chứng v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận: Cáo trạng số 253/CT-VKS ng y 25 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Nha Trang truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Trộm cắp t i sản” theo Khoản 1 Điều 138 của B luật Hình sự l có căn cứ, đúng người, đúng tội.

H nh vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp x m hại đến

quyền s hữu của công d n, l m ảnh hư ng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không lo tu dưỡng rèn luyện đạo đức, l m ăn ch n chính lương thiện m lại thực hiện h nh vi vi phạm pháp luật, thể hiện tính tham lam, tư lợi v coi thường pháp luật của bị cáo. Bản th n bị cáo có nh n th n xấu. Căn cứ v o tính chất, mức độ nguy hiểm của h nh vi phạm tội, nh n th n của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác d ng răn đe, giáo d c bị cáo v phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn

B đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, t i sản trộm cắp đã trả cho người bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 B luật Hình sự, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật m an t m cải tạo, tu dưỡng tr th nh công d n có ích cho xã hội.

Đối với h nh vi trộm cắp t i sản của bị cáo Phạm Văn B đối với người bị hại

tên l H , địa chỉ Xóm 4, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an th nh phố Nha Trang đã có văn bản số 1180/CSĐT ng y 28/8/2017 v Quyết định ủy thác số 18/CQCSĐT ng y 28/8/2017 gửi Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa yêu cầu phối hợp điều tra xử lý theo thẩm quyền. Ng y 08/12/2017, Tòa án nh n d n th nh phố Nha Trang, ban h nh quyết định số 132/2017/QĐST-HS, trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Ng y 13/12/2017, Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Nha Trang có công văn số 04/CV-VKS-HS giữ nguyên cáo trạng 253 ngày 25/10/2017 chuyển trả hồ sơ cho Tòa án nh n d n th nh phố Nha Trang để đưa ra xét xử theo thẩm quyền. Do đó, Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp t c điều tra, xác minh làm rõ, nếu có đủ căn cứ thì xử lý trong v án hình sự khác.

Về trách nhiệm d n sự:

+ Người bị hại anh K vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết

bằng v án d n sự theo thủ t c tố t ng d n sự, khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn B phạm tội “Trộm cắp t i sản”.

- Áp d ng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 B luật hình

sự.

Xử phạt bị Phạm Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ng y

tạm giam 23/8/2017.

2. Về trách nhiệm d n sự: Người bị hại, anh K vắng mặt, nên Hội đồng xét xử

tách ra để giải quyết bằng v án d n sự theo thủ t c tố t ng d n sự, khi anh K có yêu cầu.

3. Về án phí:

Áp d ng khoản 2 Điều 136 B luật tố t ng hình sự. Áp d ng điểm a khoản 1

Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử d ng án phí v lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn B phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự

sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản

án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc kể từ ng y niêm yết bản án.

Cỡ chữ