- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truy tố Phạm Đình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số: 10/2018/HSST Ngày: 07/02/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU- TP. ĐÀ NẴNG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Quang
Bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiªn tßa: Bà Trần Thị Kim Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 07/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 144/2017/HSST ngày 29/12/2017 đối với bị cáo:
Phạm Đình N - Sinh ngày 24/10/1991 tại tỉnh Q1; Nơi ĐKNKTT: Khối 2, xã Q2, Thị xã B, tỉnh Q1; Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang tại phường H, quận L, Thành phố Đ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12 ; Dân tộc : Kinh ; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch : Việt Nam; Con ông : Phạm Văn C và bà Trần Thị D.
Tiền án: Ngày 31/3/2015 bị TAND quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt ngày 10/10/2017. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Chị Trần Thị Hồng T - Sinh năm: 1988. Địa chỉ: Tổ 15 phường H, quận L, thành phố Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h30 ngày 10/10/2017, Phạm Đình N đang ngồi uống cà phê tại một quán gần cổng Khu công nghiệp Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thì gặp một nam thanh niên tên P (chưa rõ nhân thân lai lịch), N quen P thông qua một người bạn tên N (chưa rõ nhân thân lai lịch). Tại đây, P đã rủ N đi trộm cắp tài sản và N đồng ý. Khoảng 11h00 cùng ngày, N cùng P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter (không rõ biển kiểm soát) của P để đi trộm cắp tài sản. Khi đến kiệt 109 đường Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện tại số nhà K109 đường Phạm Như Xương có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám, BKS: 92G1-xxxxx của chị Trần Thị Hồng T đang dựng xe trong sân nhà. Lúc này, quan sát thấy không có người P đi vào trong sân sử dụng đoản phá khóa chuẩn bị từ trước để phá ổ khóa xe AirBlade nói trên, còn N vẫn ngồi trên xe Exciter của P ở bên ngoài. Sau khi phá khóa xong P dắt xe AirBlade ra bên ngoài rồi nói N điều khiển xe này về hướng Bến xe trung tâm Đà Nẵng và đưa cho N một bộ đoản mà trước đó P dùng để phá khóa xe AirBlade, con P điều khiển xe Exciter của mình đi phía sau. Lúc này, khi nghe tiếng xe mô tô nổ máy chị T cùng chồng là anh Thái Lý T2 chạy ra xem thì phát hiện bị mất trộm xe nên đuổi theo và truy hô. Khi N điều khiển xe mô tô AirBlade vừa trộm cắp được ra đến đầu Kiệt 109 đường Phạm Như Xương thì bị tổ tuần tra Công an phường Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu, Đà Nẵng phát hiện và bắt quả tang. Tại cơ quan Công an N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Theo kết luận định giá tài sản số: 80/KL-HDĐG kết luận: Tổng giá trị tài sản bị xâm hại (Xe mô tô nhận hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám, BKS: 92G1-xxxxx) là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng).
* Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám, BKS: 92G1-xxxxx
- 01 Giấy đăng ký xe môtô mang tên Trần Thị Hồng T.
- 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Hồng T.
- 01 bảo hiểm của xe xe môtô AirBlade BKS: 92G1-xxxxx
- 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm có một đầu dẹt và một đầu còn lại hình lục giác.
- 01 thanh kim loại chữ T dài khoảng 15cm có khớp nối hình lục giác ở phần dưới.
Ngày 25/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số: 77/CSĐT trả lại 01 xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám, BKS: 92G1-xxxxx; 01 Giấy đăng ký xe môtô, 01 Giấy phép lái xe cùng mang tên Trần Thị Hồng T và 01 bảo hiểm của xe xe môtô AirBlade BKS: 92G1-xxxxx cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trần Thị Hồng T. Chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 02/KSĐT ngày 29/12/2017 bị cáo Phạm Đình N bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng giữ N cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo Phạm Đình N, đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Phạm Đình N từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về phần dân sự: Người bị hại là chị Trần Thị Hồng T đã nhận lại tài sản 01 xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám BKS: 92G1-xxxxx; 01 Giấy đăng ký xe môtô; 01 Giấy phép lái xe cùng mang tên Trần Thị Hồng T và 01 bảo hiểm của xe môtô AirBlade BKS: 92G1-xxxxx và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về xử lý vật chứng như đã đề cập tại bản cáo trạng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Đình N đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình. Bị cáo N cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được sai trái, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 11h00 ngày 10/10/2017, tại số nhà K109 đường Phạm Như Xương, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, Phạm Đình N cùng với một nam thanh niên tên P (chưa rõ nhân thân lai lịch) đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám, BKS: 92G1-xxxxx của chị Trần Thị Hồng T. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng). Hành vi của bị cáo Phạm Đình N đã bị Viện kiển sát nhân dân quận Liên Chiểu truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Mặc dù Phạm Đình N nhận thức rõ việc xâm phạm tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị, nhưng do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo bất chấp. Tài sản bị cáo N trộm cắp trị giá 21.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, đã phạm vào khoản 1 Điều 138 BLHS. Bị cáo N có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản’’. Lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” nên cần phải xử phạt với mức án nghiêm khắc mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thái độ khai báo thành khẩn, người bị hại chị Trần Thị Hồng T có đơn xin xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với đối tượng là nam thanh niên có tên gọi là P hiện nay chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Trần Thị Hồng T đã nhận lại tài sản 01 xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ xám BKS: 92G1-xxxxx; 01 Giấy đăng ký xe môtô; 01 Giấy phép lái xe cùng mang tên Trần Thị Hồng T và 01 bảo hiểm của xe môtô AirBlade BKS: 92G1-xxxxx và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Sau khi vụ án được phát hiện, cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm có một đầu dẹt và một đầu còn lại hình lục giác.
- 01 thanh kim loại chữ T dài khoảng 15cm có khớp nối hình lục giác ở phần dưới.
Xét đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Phạm Đình N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Đình N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt:
- Phạm Đình N 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điều 106 BLTTHS năm 2015.
- Tịch thu 01 thanh kim loại dài khoảng 10cm có một đầu dẹt và một đầu còn lại hình lục giác; 01 thanh kim loại chữ T dài khoảng 15cm có khớp nối hình lục giác ở phần dưới để tiêu hủy.
Tang vật trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2018.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Đình N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn).
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Liên Chiểu; - Chi cục T.H.A DS Q.Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc |