- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TRUNG S phạm tội: “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo NGUYỄN TRUNG S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN CƯ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TÆNH ĐẮK LẮK Baûn aùn soá: 10 /2018/HSST Ngaøy 22/3/2018 |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYỆN CƯ M’GAR
* Vôùi Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn – Chuû toaï phieân toaø: OÂng Nguyeãn Quoác Baûo.
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:
1/ Bà Cao Thị Hồng Châu; 2/ Ông Trương Minh Mẫn.
* Thö kyù Toøa aùn ghi bieân baûn phieân toøa: Ông Y Lợi Niê; chức vụ: Thư ký TAND huyện CưM.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar:
Ông Phạm Văn Thành; Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngaøy 22/3/2018 taïi Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xeùt xöû sô thaåm vuï aùn hình söï thuï lyù soá: 08 /2018/HSST ngaøy 09/02/2018 ñoái vôùi bò caùo:
NGUYỄN TRUNG S, sinh ngày 27/10/1998 tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi phạm tội: 544 Hùng V, tổ dân phố 8, thị trấn Quảng P, huyện CưM, tỉnh Ñắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Nguyễn Trung N, sinh năm 1964 và con bà Mai Thị V, sinh năm 1972. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/11/2017 đến ngày 07/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện tại bị cáo ngoại - Coù maët.
- Người bị hại: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1970 - Vắng mặt.
Địa chỉ: 540 Hùng V, thị trấn Quảng P, huyện CưM, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968 - Vắng mặt.
Địa chỉ: 231 Hùng V, thị trấn Quảng P, huyện CưM, tỉnh Đắk Lắk.
2/ Bà Mạc Thị G, sinh năm 1964 - Vắng mặt.
Địa chỉ: 510 Hùng V, thị trấn Quảng P, huyện CưM, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 9h ngày 27/11/2017, NGUYỄN TRUNG S đang ở nhà và quan sát thấy gia đình ông Lê Văn Q là hàng xóm của S đóng cửa đi vắng. Khi đó, S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình ông Q để lấy tiền tiêu xài. Khoảng 10h cùng ngày, S trèo qua hàng rào lưới B40 sang nhà ông Q rồi tiếp tục trèo vào lỗ tường lớn sẵn có giữa phòng bếp và phòng khách phía trái để vào trong nhà ông Q. Khi vào bên trong nhà, S tìm kiếm và lấy được 01 can nhựa loại 20 lít bên trong có chứa 10 lít dầu ăn Đậu phụng. Sau khi lấy trộm được số dầu ăn trên S mang đến bán cho bà Mạc Thị G được số tiền 300.000đ.
Sau khi thực hiện vụ trộm trên, gia đình ông Q chưa phát hiện được, tiếp đến vào khoảng 8h sáng ngày 28/11/2017 thấy gia đình ông Q lại đóng cửa đi vắng nên S tiếp tục đột nhập vào nhà ông Q theo đường cũ. Khi vào trong nhà ông Q, S đi lên cầu thang để lên gác lửng phát hiện có 04 bao xác rắn màu xanh bên trong đựng hạt Tiêu khô, S san 02 bao tiêu thành 03 bao và buộc túm miệng lại để thuận tiện cho việc vận chuyển. Sau đó S vác 03 bao tiêu trên về nhà và điều khiển xe máy BKS 51X8- 5624 chở số Tiêu trộm cắp được tới bán cho bà Nguyễn Thị N bán được số tiền 8.278.000đ.
Sau khi thực hiện 02 vụ trộm nêu trên, S mang số tiền bán tài sản trộm cắp đi mua 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng (máy đã qua sử dụng không có hóa đơn chứng từ) với số tiền 6.400.000đ để sử dụng, số tiền còn lại S đã tiêu xài hết.
Tại kết luận định giá tài sản số: 119 ngày 30/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện CưM’gar kết luận: Trị giá 10 lít dầu ăn Đậu phụng là 700.000đ, trị giá số Tiêu khô là 101,9kg có giá trị là 8.253.900đ. Tổng giá trị tài sản mà bị can S trộm cắp là 8.953.900đ.
Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 07/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố bị cáo NGUYỄN TRUNG S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phieân toøa bò caùo khai: Vào khoảng 10h ngày 27/11/2017 và 08h ngày 28/11/2017 lợi dụng gia đình ông Lê Văn Q trú tại tổ dân phố 8, thị trấn Quảng P, huyện CưM đi vắng, không có người trông coi nhà nên bị cáo đã lén lút vào nhà trộm cắp được 10 lít dầu Đậu phụng và 101,9kg hạt Tiêu khô và đem bán lấy tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân.
Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; khoản 1 khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt: NGUYỄN TRUNG S từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 2 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra, đề nghị HĐXX giải quyết về phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án.
Bị cáo, bị hại không tham gia tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 27/11 và ngày 28/11/2017 lợi dụng gia đình ông Lê Văn Q đi vắng, không có người trông coi nhà nên bị cáo đã lén lút vào nhà trộm cắp được 10 lít dầu Đậu phụng trị giá 700.000đ và 101,9kg hạt Tiêu khô trị giá 8.253.900đ, tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp là 8.953.900đ và đem bán lấy tiền tiêu xài là phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng do ý thức coi thường và vì động cơ vụ lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị dưới 50.000.000đ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm thì mới phát huy được tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và tác động gia đình bồi thường thiệt hại, trả hết tài sản cho bị hại, người liên quan và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt tù. Hơn nữa, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt và bị cáo phạm tội nhưng được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Trong vụ án có bà Mạc Thị G, bà Nguyễn Thị N là người mua tài sản trộm cắp của bị cáo S, nhưng khi mua các tài sản nêu trên bà Giang và bà Nhạn không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý về hình sự đối với bà Giang, bà Nhạn là có cơ sở nên cần chấp nhận.
Các biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn Q đã nhận được số tài sản bị trộm cắp, bà Mạc Thị G và bà Nguyễn Thị N đã nhận được tiền mua tài sản trộm cắp mà bị cáo S bán. Ông Q, bà G và bà N không yêu cầu bị cáo S bồi thường về phần trách nhiệm dân sự, do vậy không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe máy BKS 51X8- 5624 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Mai Thị V (mẹ bị cáo S), khi bị cáo S lấy xe đi vận chuyển số Hồ tiêu trộm cắp đi bán, bà Việt không biết nên ngày 23/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar trả xe máy nêu trên cho bà V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Điện thoại Iphone 6 màu vàng (Đặc điểm có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2017 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar với Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar) là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên b bị cáo NGUYỄN TRUNG S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1/ Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; khoản 1 khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: NGUYỄN TRUNG S: 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo NGUYỄN TRUNG S cho Ủy ban nhân dân xã Ea K, huyện CưM để giám sát và giáo dục bị cáo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
2/ Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar trả xe máy BKS 51X8- 5624 cho bà Mai Thị V.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng (Đặc điểm có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2017 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar với Chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar).
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Bị cáo NGUYỄN TRUNG S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trong tröôøng hôïp baûn aùn, quyeát ñònh ñöôïc thi haønh aùn theo quy ñònh taïi ñieàu 2 Luaät THADS thì ngöôøi thi haønh aùn, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc ñieàu 6, ñieàu 7 vaø ñieàu 9 Luaät THADS; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi ñieàu 30 Luaät THADS”./.
Nôi nhaän:
TM/HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM
- Vụ Giám đốc kiểm tra I thuộc TANDTC THAÅM PHAÙN - CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOAØ
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huyện CưM’gar;
(đã ký)
- Công an huyện CưM’gar;
- Chi cục THADS huyện CưM’gar;
- Bò caùo;
Nguyễn Qu c Bảo
- Bò haïi;
- . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ;
- Löu hoà sô.