- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đăng T bị xét xử về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè bÞ c¸o Vũ Đăng T1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2018/HS-ST Ngày: 27-3-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lục
Bà Thái Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Đăng T1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/01/1991 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khối A, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An; quê quán: Xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Đ - Đã chết và bà Đậu Thị M, sinh năm: 1959; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/09/2004 bị Ủy ban nhân dân huyện Nghĩa Đàn ra quyết định số 1759 quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng thời gian 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản. Vũ Đăng T1 chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng 01/05/2006, ngày 30/11/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xử phạt 6 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/05/2009; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2018 cho đến nay - Có mặt.
- Bị hại:
+ Anh Hoàng Xuân T, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chổ ở hiện nay: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An - Vắng mặt.
+ Anh Hoàng Minh Q, sinh năm 1984. Nơi ĐKHKTT: Xóm K, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chổ ở hiện nay: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An - Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1998. Nơi ĐKHKTT: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Chổ ở hiện nay: Khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 1 giờ 30 phút ngày 17/06/2016, Vũ Đăng T1 và Nguyễn Thanh T2 rủ nhau đi xem bóng đá. Khi đi qua xưởng mộc của gia đình Chị Nguyễn Thị H tại khối T, phường Q, thị xã T, T2 và T1 phát hiện thấy cửa nhà trọ của công nhân mộc không khóa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T2 và T1 đi xuống vườn mía gần xưởng mộc rồi trèo tường vào bên trong dãy trọ, lúc này T1 đứng ở ngoài để cảnh giới còn T2 vào dãy trọ để trộm. T2 vào phòng trọ thứ nhất lấy trộm 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 máy SONY C3 màu trắng và 01 máy Masstel 1235 màu trắng của anh Hoàng Xuân T, vào phòng trọ thứ hai lấy trộm 03 điện thoại di động trong đó gồm 01 máy SONY C3 màu đen, 01 máy Xphone 6319 màu đen của anh Hoàng Minh Q và 01 máy SONY M4Aqua trắng của anh Nguyễn Đình P. Sau khi lấy được số tài sản trên, T2 và T1 trèo ra ngoài và đi về nhà T2. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 17/06/2016, T2 và T1 đón xe khách xuống thành phố V bán cho anh Hồ Tuấn L là chủ của cửa hàng điện thoại di động L tại số A, đường L, phường H, thành phố V 03 chiếc điện thoại di động gồm 02 chiếc SONY C3 và 01 chiếc SONY M4Aqua với giá 3.800.000đ (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi bán xong số tài sản trên, T2 cầm số tiền 2.000.000đ và 01 máy Xphone màu đen để sử dụng, T1 cầm số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) và 01 máy Massel 1235 màu trắng để sử dụng. Sau đó, T2 và T1 đón xe khách về thị xã T.
Ngày 17/06/2016, Nguyễn Thanh T2 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Vũ Đăng T1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã trốn khỏi địa phương, đến ngày 12/01/2018 bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hòa bắt theo quyết định truy nã.
Tại Kết luận định giá ngày 07/07/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An kết luận:
- 01 (một) chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu SONY - XPERIE C3, màu trắng, đã qua sử dụng, có giá trị: 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu SONY -XPERIA C3, màu đen đã qua sử dụng có giá trị: 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu SONY -XPERIA M4 Aqua, màu trắng đã qua sử dụng có giá trị: 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
- 01 (một) chiếc máy điện thoại di động Viettel -XPhone 6319, màu đen viền đỏ, đã qua sử dụng có giá trị: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- 01 (một) chiếc máy điện thoại di động Masstel 1235, màu trắng đã qua sử dụng có giá trị: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị là: 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng)
Tại bản Cáo trạng số 10/VKS-HS ngày 27 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa truy tố bị cáo Vũ Đăng T1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 138; điểm b, p, khoản 1, khoản 2, Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Trần Đăng T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, truy thu của bị cáo 1.800.000đồng tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước, về trách nhiệm dân sự không xem xét, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phái theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hoà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bội luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đinh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người bị hại: Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Xét thấy trong quá trình điều tra người bị hại đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của người bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người bị hại.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T2, phù hợp với lời khai của những người bị hại, trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã xác định được vµo khoảng 1 giờ 30 phút ngày 17/06/2016, Vũ Đăng T1 và Nguyễn Thanh T2 đến xưởng mộc của gia đình chị Nguyễn Thị H tại khối T, phường Q, thị xã T, cả hai trèo tường vào bên trong dãy trọ, T1 đứng ở ngoài để cảnh giới còn T2 vào dãy trọ trộm 05 chiếc điện thoại gồm 01 máy SONY C3 màu trắng, 01 máy Masstel 1235 màu trắng, 01 máy SONY C3 màu đen, 01 máy Xphone 6319 màu đen và 01 máy SONY M4Aqua trắng. Số tài sản trên đã được định giá có giá trị là 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy có đủ cơ sở kết luận Vũ Đăng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1, Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đối với Nguyễn Thanh T2 đã bị xét xử vào ngày 29 tháng 12 năm 2016.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo T1 là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Hành vi của Vũ Đăng T1 đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Quá trình điều tra tuy được tại ngoại nhưng bị cáo đã không chấp hành quy định của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong thời gian tại ngoại bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cản trở cho quá trình điều tra, bị cáo lại có nhân thân xấu. Do vËy cÇn xÐt xö nghiªm kh¾c. Tuy nhiªn còng xÐt cho bÞ c¸o thËt thµ khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh, bố của bị cáo có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương, bị cáo là đồng phạm với vai trò thứ yếu, cảnh giới cho T2 trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp. §©y lµ các t×nh tiÕt gi¶m nhÑ quy ®Þnh t¹i ®iÓm, p, kho¶n 1,khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần. Tuy nhiên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội
VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Qu¸ tr×nh ®iÒu tra còng như t¹i phiªn toµ h«m nay thÊy r»ng bÞ c¸o cã ®iÒu kiÖn kinh tÕ khã kh¨n, kh«ng cã tµi s¶n g× đáng kể, nghÜ nªn miÔn h×nh ph¹t bæ sung cho bÞ c¸o lµ phï hîp.
VÒ båi thường d©n sù: T¹i phiªn tßa h«m nay những người bÞ h¹i v¾ng mÆt nhưng ®· cã ®¬n xin v¾ng mÆt kh«ng tham gia phiªn tßa vµ kh«ng cã yªu cÇu g× vÒ viÖc båi thường n÷a nªn Héi ®ång xÐt xö miÔn xÐt.
VÒ ¸n phÝ: CÇn buéc bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
V× c¸c lÏ trªn.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyªn bè bÞ c¸o Vũ Đăng T1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1, Điều 138 ; điểm p, kho¶n 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt: Vũ Đăng T1 07 ( Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 01 năm 2018.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hính sự năm 2015 vµ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc bị cáo Vũ Đăng T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xö c«ng khai s¬ thÈm cã mÆt bÞ c¸o được quyÒn kh¸ng c¸o lªn Toµ ¸n nh©n d©n tØnh NghÖ An trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. V¾ng mÆt những bÞ h¹i được quyÒn kh¸ng c¸o lªn Toµ ¸n nh©n d©n tØnh NghÖ An trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn ®ược b¶n sao b¶n ¸n.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thị xã Thái Hòa; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Chi cục THADS thị xã Thái Hòa; - Cơ quan Công an thị xã Thái Hòa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; - Sơ Tư pháp; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Đình Sơn |