vanban.org

Bản án 09

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Châu T T: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. [2] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2023/HS-ST
Ngày: 10/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diễm Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Huy Bình.

2. Bà Lê Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thủy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên:Châu T Th(tên gọi khác: Ba Giá); sinh ngày 24 tháng 01 năm 1992; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 2/5 ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Châu T T; sinh năm: 1968; Con bà: Trần T T, sinh năm: 1968; Con: Châu Ngọc L C, sinh năm: 2016; Anh, chị, em: không có

Tiền án: Không

Tiền sự:

- Ngày 15/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 17/5/2022 bị Công an huyện Cần Giờ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

- Ngày 24/9/2019 bị Công an xã Long Hòa, huyện Cần Giờ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 17/12/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Long Hòa, huyện Cần Giờ ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 12/11/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1953 (vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: 2/29 ấp L, xã L, huyện C, tp Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1971(vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: ấp L, xã L, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bà Võ Thị Th, sinh năm: 1981(vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: 22/19 khu phố Giồng Ao, thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Bà Trần Thị T, sinh năm: 1968(vắng mặt) Hộ khẩu thường trú: 2/5 ấp Long Thạnh, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ năm 2007, ông Nguyễn Văn H giao căn nhà tại số 2/5 ấp L, xã L, huyện C cho con gái nuôi là chị Trần Thị T và là con của chị Tở nhờ và giao cho chị Tquản lý, sử dụng toàn bộ các tài sản và vật dụng sinh hoạt trong căn nhà, trong đó có 02 cái tủ đông (01 cái hiệu AquaFine và 01 cái hiệu Sanaky). Đến khoảng 11 giờ ngày 24/5/2022, lợi dụng lúc chị Tđi vắng nên Thành đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong căn nhà mà ông Hđã giao cho chị Tquản lý để bán lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma túy. Bị cáo Thành đến vựa ve chai của anh Nguyễn Hữu Hkêu anh Hđến nhà để bán cái tủ đông hiệu AquaFine với giá 250.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, bị cáo Thành đến gặp chị Võ Thị Th kêu chị Thanh đến nhà để bán cái tủ đông hiệu Sanaky với giá 1.700.000 đồng. Số tiền bán được bị cáo Thành đã sử dụng hết vào mục đích tiêu xài cá nhân. Đến 08 giờ 50 phút ngày 25/5/2022, ông Nguyễn Văn H phát hiện tài sản bị mất nên đã trình báo Công an xã Long Hòa, huyện Cần Giờ. Sau đó Công an xã Long Hòa, huyện Cần Giờ đã mời lên làm việc và tiến hành lập biên bản tạm giữ các vật chứng có liên quan. Tại biên bản định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS, ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Cần Giờ. Kết luận giá trị 01 cái tủ đông hiệu Sanaky, màu trắng, model VH – 1199HY3 là 16.188.065 đồng. Riêng cái tủ đông hiệu Aqua Fine không định giá được do không đủ thông tin và đã hư hỏng.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS H.CG ngày 17 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06(sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Bị hại Nguyễn Thanh Hải có đơn xin vắng mặt, trong quá trình điều tra ông Hcó đơn yêu cầu bãi nại và không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

- Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ có sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 15 giờ, ngày 24/5/2022 tại căn nhà tại số 2/5 ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp 02 cái tủ đông (01 cái hiệu AquaFine và 01 cái hiệu Sanaky) của ông Nguyễn Văn H. Tổng giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 16.188.065 đồng. Hành vi của bị cáo Thành đã đù yếu tố cầu thành tội phạm. Từ đó, đã có đủ cở sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự . Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân mà còn làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân. Bị cáo có đủ nhận thức để hiểu được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm được pháp luật quy định. Song, do bản chất lười lao động và có nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp pháp luật. Do đó, cần áp mức dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đồng thời bị cáo và người bị hại có quan hệ gia đình (bị hại là ông ngoại nuôi của bị cáo). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [5] Về xử lý vật chứng:

- 02 cái tủ đông (trong đó: 01 cái tủ đông hiệu Aqua Fine đã cũ, hư hỏng, đã bị tháo rời trong quá trình thu mua; 01 cái tủ đông hiệu Sanaky, màu trắng, model: VH-1199HY3, đã qua sử dụng), đã hoàn trả cho bị hại Nguyễn Văn H và 30 (ba mươi) cái ghế bố, không liên quan đến vụ án đã hoàn trả lại cho anh Trương Chí Cường là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Tiền Việt Nam: 500.000 đồng không liên quan đến vụ án nên hoàn trả lại cho bị cáo Thành là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [6] Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại là ông Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Th và ông Nguyễn Hữu Hkhông yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Châu T T: 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[2] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[3] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

[4] Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nôi nhaän:

Cỡ chữ