- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN LỆ BÍCH - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lệ B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HS-ST Ngày: 14 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Bà Võ Thị Kim Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 5 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Lệ B; sinh năm 1963, tại A; nơi cư trú: Khu phố 8, phường A, tỉnh B; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn K (đã chết); con bà Trần Thị T, sinh năm 1938, hiện trú tại: Khu phố 2, phường A, tỉnh B; gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ nhất; chồng Trương T, sinh năm 1962, nghề nghiệp: Lao động tự do; có 04 người con, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 10/8/2025, Nguyễn Thị Lệ B đón xe khách ở khu vực ngã tư đường Điện Biên Phủ - Trần Bình Trọng, thuộc phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đến chợ Tân Long, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị để mua pháo về bán lại kiếm lời. Khi đến phía trước chợ Tân Long, B gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi chỗ để mua pháo thì biết được người phụ nữ đó có bán pháo. B hỏi mua 11 túi pháo bi thì người phụ nữ báo giá 1.650.000 đồng. B đồng ý và người phụ nữ đó rời đi một lúc rồi quay lại đưa pháo cho B. B trả tiền cho người phụ nữ rồi đón xe đưa số pháo trên về nhà cất giấu.
Khoảng 04 giờ ngày 12/8/2025, B tiếp tục đón xe khách tại khu vực ngã tư đường Điện Biên Phủ - Trần Bình Trọng để đi đến chợ Tân Long tìm người phụ nữ trên để mua pháo hoa về bán lại kiếm lời. Khi đến nơi, B không thấy người phụ nữ đâu nên hỏi một người đàn ông làm nghề xe thồ ở cổng chợ Tân Long chỗ mua pháo thì người này nói ra phía sau chợ. B đi ra phía sau chợ thì thấy người phụ nữ đã bán pháo cho mình vào ngày trước đó, B đến hỏi mua 06 hộp pháo hoa nổ loại 49 ống do nước ngoài sản xuất, 02 hộp pháo hoa nổ loại 36 ống do nước ngoài sản xuất và 01 gói pháo bi thì người phụ nữ trên đồng ý bán với giá 2.480.000 đồng. Sau đó người phụ nữ đi lấy pháo, khoảng 10 phút sau thì quay lại giao số pháo nổ trên cho B, B trả đủ số tiền 2.480.000 đồng rồi đón xe khách về lại phường Nam Đông Hà để đưa số pháo mua được về nhà cất giấu. Khi B xuống xe tại khu vực ngã tư đường Điện Biên Phủ - Trần Bình Trọng thì bị Tổ công tác Công an phường Nam Đông Hà phát hiện bắt quả tang. Sau khi bị bắt, B đã tự nguyện giao nộp 11 túi pháo bi đã mua ngày 10/8/2025 đang cất giấu tại nhà.
Tại bản kết luận giám định số 1010/KL-KTHS ngày 17/8/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định bao gồm:
+ 06 (sáu) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu KS4-4911X và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài và 02 (hai) hộp, vỏ ngoài mỗi hộp bọc giấy có ký hiệu CHONG KOL C0834 và hoa văn nhiều màu sắc, chữ nước ngoài là pháo hoa nổ, khối lượng: 12,85kg.
+ Các vật hình cầu nhiều màu sắc khác nhau, mỗi vật hình cầu có gắn đoạn dây màu xanh là pháo nổ, khối lượng: 0,44kg.
Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu PB là pháo nổ, khối lượng: 4,5kg.
Cáo trạng số 17/CT-VKSKV5 ngày 10/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lệ B về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lệ B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Lệ B từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
Đối với số pháo hoa nổ, pháo nổ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách bị cáo sử dụng để đựng pháo nổ đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Lệ B không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Lệ B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích lợi nhuận nên ngày 10/8/2025 và ngày 12/8/2025 Nguyễn Thị Lệ B đã có hành vi mua 12,85kg pháo hoa nổ và 4,94 kg pháo nổ, tổng cộng 17.79 kg ở chợ Tân Long, tỉnh Quảng Trị đưa về cất giấu tại nhà mục đích bán lại kiếm lời.
Như vậy, hành vi trên của Nguyễn Thị Lệ B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới có tác dụng răn đe và phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, chồng bị bệnh hiểm nghèo và đang được hưởng chế độ người khuyết tật nặng cần phải có người chăm sóc đặc biệt nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng răn đe và phòng chống tội phạm.
Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ :
Đối với số pháo hoa nổ và pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong trong 02 thùng giấy ký hiệu P và PB là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 túi xách bị cáo sử dụng để đựng pháo nổ và pháo hoa nổ đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lệ B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Lệ B: 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 thùng giấy niêm phong ký hiệu P (bên trong chứa 05 hộp pháo hoa nổ; 01 pháo hoa nổ; 0,41 kg pháo nổ); 01 thùng giấy niêm phong ký hiệu PB (bên trong chứa 4,4kg pháo nổ còn lại sai giám định) và 01 túi xách có quai đeo, màu đen.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Lệ B 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A 37.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND KV 5; - Công an tỉnh Quảng Trị; - Phòng THADS KV 5; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vũ Xuân |