- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 09/2025/HSPT - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HSPT Ngày 21-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang và bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 275/2024/TLPT-HS ngày 10/12/2024 đối với bị cáo Lê Anh Q về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Anh Q (tên gọi khác QT), sinh ngày 29/9/1992, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1965 và bà Lê Thị X, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không;
Tiền án: Bị cáo có 07 tiền án:
Bản án số 38/2010/HSST ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/4/2011 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 05/2012/HSST ngày 29/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/11/2013 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 345/2014/HSPT ngày 05/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/12/2014 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 244/2015/HSPT ngày 17/6/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 13/6/2017 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 30/2018/HS-ST ngày 05/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/02/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 225/2019/HS-PT ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/11/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bản án số 62/2021/HS-PT ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Anh Q là người nghiện ma túy và có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, Q về sống chung với cha mẹ (ông Lê Văn T và bà Lê Thị X) tại thôn T, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, nhưng không có nghề nghiệp. Vào khoảng 08 giờ ngày 29/6/2024, khi Q ở nhà của cha mẹ mình là ông T và bà X, thấy không có người trông coi nhà, nên Q đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Q rút các phích cắm và tháo Tivi hiệu Samsung 43inch đang treo trên tường ở phòng khách rồi mang đến tiệm rửa xe tại thôn K, xã C, huyện K, gặp anh Phan V để bán Tivi. Anh V hỏi nguồn gốc Tivi thì Q nói Tivi của mình do cần tiền nên bán. Anh V nói Q để lại Tivi kiểm tra rồi mới thống nhất mua giá bao nhiêu và hẹn hôm sau trả tiền, đồng thời anh V đưa trước cho Q số tiền 400.000 đồng thì Q đồng ý. Sau khi lấy tiền của anh V, Q đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, ông Lê Văn M (cậu ruột của Q) là người được ông T và bà X giao quản lý nhà và tài sản, phát hiện chiếc Tivi bị trộm cắp nên đã trình báo cho Công an huyện Krông Búk. Khi biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện nên vào khoảng 20 giờ ngày 29/6/2024, Lê Anh Q đã đến Công an huyện Krông Búk đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/6/2024, anh Phan V đã giao nộp chiếc Tivi đã mua của Lê Anh Q cho Công an huyện Krông Búk.
Tại kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Krông Búk, kết luận: 01 Tivi hiệu Samsung 43inch màu đen, số loại UA43RU7100KXXV, mua vào năm 2020, tại thời điểm định giá ngày 29/6/2024, trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo LÊ ANH Q (QT) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo LÊ ANH Q 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/6/2014.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 07/11/2024, bị cáo Lê Anh Q có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Anh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là thỏa đáng, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Lê Anh Q không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét lời khai của bị cáo Lê Anh Q tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 29/6/2024, bị cáo Lê Anh Q đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Lê Văn T, bà Lê Thị X chiếc Tivi hiệu Samsung 43inch màu đen, số loại UA43RU7100KXXV, trị giá 2.500.000 đồng, bán cho ông Phan V lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Anh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đã xem xét đến nhân thân của của cáo, bị cáo có 07 tiền án, cụ thể: Bản án số: 38/2010/HSST ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù; Bản án số 05/2012/HSST ngày 29/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 02 năm tù; Bản án số 345/2014/HSPT ngày 05/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù; Bản án số 244/2015/HSPT ngày 17/6/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù; Bản án số 30/2018/HS-ST ngày 05/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù; Bản án số 225/2019/HS-PT ngày 31/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù; Bản án số 62/2021/HS-PT ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của các bản án nói trên nhưng chưa được xoá án tích, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Trong khoảng thời gian từ năm 2010 cho đến nay, bị cáo liên tục bị xét xử và bị tuyên phạt hình phạt tù có thời hạn về hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà cần gửi nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Anh Q - Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo LÊ ANH Q 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 29/6/2014.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Anh Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; - TAND Cấp cao - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - Công an huyện Krông Búk; - Chi cục THADS huyện K; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thanh Huyền |