- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN CẨM LỆ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| –––––––––––– Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 15- 01- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ- TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Trình
- Ông Đặng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự- Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo: NGUYỄN THỊ HAỈ N. Sinh ngày: 10/7/1991, tại Quảng Nam;Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 049191019522; con ông: không rõ và bà Nguyễn Thị M; có chồng Huỳnh Công P và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Ngày 25/11/2015 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2017. Ngày 11/11/2015 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2017. Ngày 29/8/2022 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/05/2024 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại bản án số 33/2022/HSST của TAND huyện Quế Sơn là 05 năm 09 tháng tù, hiện bị cáo chưa chấp hành hình phạt. Ngày 14/6/2024 bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại bản án số 11/2024/HSST của Toà án nhân dân huyện Quế Sơn là 06 năm 06 tháng tù, hiện bị cáo chưa chấp hành hình phạt; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 24/9/2013 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/9/2014. Ngày 27/9/2024 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại bản án số 46/2024/HSST của Toà án nhân dân huyện Thăng Bình là 08 năm tù, hiện bị cáo chưa chấp hành hình phạt; bị cáo bị bắt ngày 05/9/2024- Có mặt tại phiên tòa.- Bị hại: 1. Ông Huỳnh Đức K, sinh năm: 1963 2. Bà Ngô Thị T, sinh năm: 1964 Cùng trú tại: Tổ C, phường H, quận C, TP .- Cả hai đều vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 05/9/2024, Nguyễn Thị Hải N đón xe đi từ huyện Q, tỉnh Quảng Nam ra khu vực cầu C, thành phố Đà Nẵng để tìm nhà nào sơ hở thì đột nhập trộm cắp tài sản. Khi đến cầu C, N đi bộ dạo quanh các ngôi nhà gần đó thì phát hiện nhà của ông Huỳnh Đức K1 tại số K đường Ô, thuộc tổ C, phường H, quận C, cửa đang mở. N đi vào bên trong nhà quan sát và đi theo lối cầu thang lên tầng 2, vào phòng ngủ thứ nhất thì thấy ông K đang ngủ trên giường, trên đầu tủ cạnh giường có 01 dây chuyển bằng kim loại vàng, có mặt bằng gỗ được bọc viền kim loại màu vàng; 01 vòng đeo tay hình tròn bằng gỗ có bọc kim loại vàng; 01 nhẫn đeo tay bằng vàng và 01 đồng hồ đeo tay hiệu CK màu trắng bạc. N đi đến chiếc tủ lấy số trang sức và đồng hồ này cất vào trong túi quần đang mặc rồi tiếp tục đi sang các phòng bên cạnh tìm kiếm tài sản nhưng không thấy gì thêm. Lúc này thấy dưới tầng 01 có người, do số tài sản lấy nhiều, không giấu hết được, sợ bị phát hiện nên N đã vứt lại 01 đồng hồ và 01 nhẫn tại phòng này, còn dây chuyền và vòng đeo tay vẫn cất trong túi quần.
Sau đó, N đi xuống lại tầng 1 thì gặp bà Ngô Thị T là vợ của ông K, N nói dối bà T là bị chồng đuổi đánh phải chạy vào nhà nấp nhờ, rồi nhân lúc mọi người không chú ý, N đi bộ ra phía đường T tẩu thoát. Đến khoảng 8 giờ cùng ngày, Công an phường H tiến hành truy tìm và bắt được N đang ẩn nấp trên đường T cùng số tài sản vừa trộm cắp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá vài sản trong Tố tụng hình sự quân C kết luận: Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 107.079.267 đồng.
Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKSCL ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hải N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hải N mức hình phạt từ 03 đến 04 năm tù.
Đề nghị áp dụng Điều 56 để tổng hợp hình phạt đối với bản án số 32/2024/HSST ngày 27/9/2024 của tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Đối với 01 đĩa CD có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh nhà ông Huỳnh Đức K thời điểm xảy ra vụ án, do đó cần lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]Khoảng 8 giờ ngày 05/9/2024, tại nhà số K đường Ô, tổ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị Hải N đã có hành vi trộm cắp tài sản của ông Huỳnh Đức K với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 107.079.267 đồng. [3] Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị Hải N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 07/CT-VKSCL ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị Hải N là người mẹ, người vợ, lẽ ra bị cáo phải phải ý thức được pháp luật, lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn mục đích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Hải N đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, phạm vào khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo đã có tiền án; ngày 25/11/2015 bị Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/11/2025 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/8/2022 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/05/2024 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/6/2024 bị Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và có nhân thân xấu; ngày 20/9/2013 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/9/2024 bị Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù chưa được xóa án tích nhưng bị cáo N lại tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và tài sản chiếm đoạt trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng là tình tiết định khung được quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
Hiện nay bị cáo N đang chấp hành hình phạt tù 08 năm, theo bản án số 32/2024/HSST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là phù hợp. [4] Xét về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra ông Huỳnh Đức K đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. [5] Xét về vật chứng: Đối với 01 đĩa CD có chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh nhà ông Huỳnh Đức K, hiện đang lưu theo hồ sơ vụ án nên không đề cập đến. [6]Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hải N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hải N 03 (ba) năm tù.
Tổng hợp bản án số 32/2024/HSST, ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, xử phạt Nguyễn Thị Hải N 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hải N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 05/9/2024.
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 15/01/2025.
Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND quận Cẩm Lệ; - CQCSĐT Công an quận Cẩm Lệ; - TAND TP. Đà Nẵng; - VKSND TP. Đà Nẵng; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Lâm |