- Tranh chấp gì? án hình sự — "E phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T6 Em phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt: Bị cáo Lê Văn T6 Em 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên
Các hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam; Bà Huỳnh Thị Thuý Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét sử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 230/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn Thiện E, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1989 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số H, tổ E, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lê Văn H và bà Lê Thị L; có vợ tên Nguyễn Thị P, có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17 tháng 7 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng chấp hành xong ngày 14 tháng 9 năm 2019.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20 tháng 5 năm 2024, đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, cho đến nay (có mặt).
- Người làm chứng: Phan Phong P1, sinh năm 1986; (vắng mặt); Nguyễn Phú C, sinh năm 1999; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 19 tháng 5 năm 2024, H1 (chưa rõ họ, địa chỉ) đến nhà Lê Văn Thiện E ở số H, tổ E, khóm T, phường M, thành phố L rủ Thiện E sử dụng ma túy đá. Thiện E đồng ý và lấy bình hút ma túy bằng chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút bằng nhựa đỏ, trắng đem vào nhà bếp cho H1 đổ ma túy của H1 đem đến vào bình rồi cùng nhau sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, có người điện thoại cho H1 nên H1 đi về và cho Thiện E số ma túy còn lại trong bình hút; khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, Phan Phong P1 đến nhà Thiện E chơi đến 20 giờ 30 phút thì P1 đưa cho Thiện E 150.000 đồng để mua ma túy đá cùng sử dụng. Thiện E gọi Messenger cho T, không rõ họ địa chỉ, để mua ma túy nhưng T không nghe máy nên Thiện E bảo P1 sử dụng ma túy còn lại trong bình hút và dùng 150.000 đồng để nạp điểm cho Thiện E và Phú chơi game trên điện thoại di động thì P1 đồng ý. Lúc này, Nguyễn Phú C, Bánh B (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đến. C đưa cho Thiện E 100.000 đồng mua ma túy cùng sử dụng. Thiện E gọi M mua ma túy của T, nhưng T không nghe máy nên Thiện E trả lại 100.000 đồng cho C. Lúc này, C, Bánh B xin được cùng sử dụng ma túy có sẵn trong bình hút, thì Thiện E đồng ý. Sau đó, Thiện E, P1, C, Bánh B tự đốt ma túy sử dụng hết thì C, Bánh B đi về, còn Thiện E, P1 ngủ ở nhà Thiện E. Đến khoảng 04 giờ ngày 20 tháng 5 năm 2024, Lưu Nguyễn Ngọc T1 điều khiển xe mô tô Future, biển số 67C1-820.20 chở Nguyễn Phú C đến trước nhà Thiện E mượn chìa khóa để tắt máy xe thì Thiện E nói không có chìa khóa và đi vào nhà. Thấy vậy, T1 lấy các dụng cụ sửa xe để trước nhà Thiện E để tắt máy, tháo biển số 67C1-820.20 và lắp biển số xe 67E1-214.89 do T1 nhặt được vào xe mô tô Future. Đến 05 giờ ngày 20 tháng 5 năm 2024, Công an phường M kiểm tra hành chính nhà của Thiện E phát hiện: trước nhà có Lưu Nguyễn Ngọc T1, Nguyễn Phú C, 01 xe mô tô Future gắn biển số 67E1-214.89; 01 biển số 67C1-820.20 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67C1-820.20 tên Trần Thanh T2; trong nhà có Lê Văn Thiện E, Phan Phong P1, 01 chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút bằng nhựa đỏ và trắng, 01 cây khè, 01 bình ga mini, 01 quẹt ga. T1 khai xe mô tô Future do T1 lấy trộm tại huyện C, tỉnh An Giang nên lực lượng Công an đưa Thiện E, T1, C, P1 về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L làm việc.
Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút bằng nhựa đỏ và trắng; 01 cây khè hiệu Namilux, 01 bình ga mini hiệu Namilux, 01 quẹt ga màu đỏ.
Kết luận giám định số 3127/KL-KTHS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 hộp niêm phong có các chữ ký ghi tên Lê Văn Thiện E, Phan Phong P1, Nguyễn Phú C, Nguyễn Hiếu T3, Võ Hữu T4, Huỳnh Bảo T5 và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang. Bên trong có 03 chai nhựa đều chứa chất lỏng màu vàng (dung dịch nước tiểu) khoảng 200ml/chai (chai ký hiệu 01: Phan Phong P1, chai ký hiệu 02: Nguyễn Phú C, chai ký hiệu 03: Lê Văn Thiện E) đều tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSLX ngày 30 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lê Văn Thiện E về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn Thiện E khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng; căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Lê Văn Thiện E từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về trách nhiệm dân sự: không có. Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy các tang vật chứng không có giá trị sử dụng để tiêu hủy.
Trong phần tranh luận, bị cáo Thiện E không thừa nhận có tổ chức cho C và Bánh B sử dụng chất ma túy, việc C và Bánh B có sử dụng ma tuý của bị cáo hay không thì bị cáo không biết, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Tại phiên toà, bị cáo Thiện E không thừa nhận có tổ chức cho C và Bánh B sử dụng trái phép chất ma tuý, nhưng quá trình điều tra bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 19 tháng 5 năm 2024, Lê Văn Thiện E đã có hành vi lấy bình bằng chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút bằng nhựa đỏ, trắng đem vào nhà bếp cho H1 đổ ma túy của H1 đem đến vào bình rồi cùng nhau sử dụng tại nhà của Lê Văn T6 Em địa chỉ số H, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Sau khi H1 đi Lê Văn Thiện E tiếp tục cho P1 sử dụng phần ma tuý còn trong bo, bình hút thì để ngay trên bàn nơi Thiện E ngồi, cả hai cùng sử dụng ma tuý ai hút thì tự đốt, sử dụng được khoảng mười lần kéo dài đến tối thì có C và Bánh B vào xin Thiện Em hút ma tuý cùng, C và B1 Béo lấy phần ma tuý trong bình hút Thiện Em đang sử dụng hút được hai lần thì hết nên ra về. Đến 05 giờ 00 phút, ngày 20 tháng 5 năm 2024 thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính tại nhà T và qua kiểm tra phát hiện Thiện E, P1 và Cường dương T7 với ma tuý loại Methamphetamine, Công an lập biên bản thu giữ các tang vật liên quan và Thiện E đầu thú về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo tổ chức cho P1, C, Bánh B sử dụng ma túy, hành vi của bị cáo Lê Văn Thiện E đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do đó, cần xử lý thật nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa chung.
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang các tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng và hết sức phức tạp, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ, địa điểm để cho H1, C, P1 và Bánh B sử dụng trái phép chất ma tuý do H1 đem đến. Bị cáo còn liên hệ T mua thêm ma tuý cho những người còn lại sử dụng nhưng không mua được. Chất ma tuý mà bị cáo Thiện E cùng các đối tượng khác sử dụng là loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vi vết.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài hình sự nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu về ma túy của bản thân và tổ chức cho người khác sử dụng. Nhân thân bị cáo xấu, đã từng sử dụng trái phép chất ma túy, bị đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng.
Mặc dù, tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận tổ chức cho C và Bánh B sử dụng trái phép chất ma túy, là nhằm trốn trách trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo; do đó, cần phải có hình phạt thật nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; tuy nhiên tại phiên toà bị cáo không có thái độ thành khẩn khai báo, mặc dù đã được Hội đồng xét xử giải thích. Bị cáo đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người liên quan trong vụ án:
- Đối với H1 là người mang ma tuý đến nhà Thiện E sử dụng, người phụ nữ tên T là người bán ma tuý và Bánh B là người sử dụng ma tuý, hiện không rõ tên, họ và địa chỉ cụ thể nên đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục thu thập thông tin và xử lý theo quy định của pháp luật.
- Việc C, P1 và Bánh B cùng sử dụng ma tuý, nhưng không tham gia bàn bạc, không góp tiền mua ma túy, không phải là người sở hữu, quản lý nhà địa điểm sử dụng ma túy, không có hành vi khác giúp đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự của C, P1, Bánh B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ. P1, C có hành sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ về địa phương để xử lý hành chính đối với P1, C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
- Đối với Lưu Nguyễn Ngọc T1, đã có hành vi trộm xe mô tô đã bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt bằng Bản án số 59/2024/HS-ST, ngày 24/9/2024 về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng: Các vật chứng dùng vào việc sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T6 Em phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt: Bị cáo Lê Văn T6 Em 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam ngày 20 tháng 5 năm 2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng 01 chai nhựa có chữ Sting, nắp màu đỏ có gắn ống hút bằng nhựa đỏ và trắng; 01 cây khè hiệu Namilux, 01 bình ga mini hiệu Namilux, 01 quẹt ga màu đỏ. (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Điều tra - Công an thành phố L với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Thiện E phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Văn Thiện E có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - VKSND tp. Long Xuyên; - Công an tp. Long Xuyên; - CQTHAHS Công an tp. Long Xuyên; - Nhà tạm giữ - Công an tp. Long Xuyên; - Chi cục THADS tp. Long Xuyên; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Kiên |