- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Lâm Tuấn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 15 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tính
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Vĩnh
2. Bà Kim Thị Sà Mết
- Thư ký phiên tòa: Bà Tào Diệu Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh H, sinh ngày 08/9/1999, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn X (sinh năm 1966) và bà Lê Thị Đ (sinh năm 1966); có vợ tên Phạm Thị Hồng N (đã ly hôn) và 01 người con (sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giam từ ngày 02/10/2024 đến nay. (Có mặt)
2. Lâm Tuấn N1, sinh ngày 28/9/1991, tại tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lâm Thanh T (đã chết) và bà Võ Thị S (sinh năm 1955); có vợ tên Lưu Thị Kim C và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 22 giờ 10 phút ngày 10/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu phối hợp Công an xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Minh H, Lâm Tuấn N1 và Đoàn Vũ L đang có hành vi liên quan đến tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy tại khu đất trống thuộc ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Tại hiện trường lực lượng Công an tạm giữ tại vị trí Đoàn Vũ L đang ngồi 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế; kiểm tra trong túi áo của Lâm Tuấn N1 đang mặc có 01 bịch nylon, bên trong bịch nylon có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy.
Quá trình điều tra xác định, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, vào khoảng 19 giờ ngày 10/7/2024, Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô đến khu vực gần Bệnh viện Quân dân y tỉnh B (không xác định được địa chỉ cụ thể) gặp và mua 01 (một) bịch ma túy của người thanh niên (không rõ tên, địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng. H giữ ma túy trên tay và điều khiển xe ra về. Khi về đến nhà, H tự mình làm dụng cụ để sử dụng ma tuý. Do trên đường về nhà, H điều khiển xe bị ngã và thương tích nhẹ nên Đoàn Vũ L, Lâm Tuấn N1 đến nhà thăm. Khi H chuẩn bị xong dụng cụ sử dụng ma túy thì cũng có mặt N1 và L. Do H biết L có sử dụng ma túy nên H rủ L sử dụng ma túy với H thì L đồng ý. Nin biết H có ý định sử dụng ma túy với L nên N1 giữ bịch ma túy của H, mục đích để điều tiết lượng ma túy sử dụng, không cho H sử dụng nhiều ảnh hưởng công việc (H là người làm công cho N1). Trong quá trình sử dụng ma túy, N1 lấy một phần ma túy từ bịch ma túy của H cho vào dụng cụ cho H và L sử dụng. Sau đó, N1 cũng tham gia sử dụng ma túy, H đồng ý việc N1 sử dụng ma túy cùng với H và L. Được sự đồng ý của H, N1 cất giữ phần ma túy còn lại (để H sử dụng). Sau khi H, L và N1 sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy trên người của N1 và dụng cụ sử dụng ma túy.
Kết quả test nhanh chất ma tuý vào ngày 11/7/2024 tại Trạm y tế xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu xác định Nguyễn Minh H, Đoàn Vũ L và Lâm Tuấn N1 dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 92/KL-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận như sau: Chất rắn màu trắng, dạng tin thể, bên trong một bịch nylon (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng 0,10850 gam.
Tại Bản Cáo trạng số 10/CT – VKS - HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Lâm Tuấn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu vẫn giữ quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H và Lâm Tuấn N1 theo nội dung Cáo trạng số 10/CT – VKS - HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Lâm Tuấn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Minh H chấp hành hình phạt chung từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/10/2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Tuấn N1. Xử phạt bị cáo Lâm Tuấn N1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, vị đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí của vụ án.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh H, Lâm Tuấn N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt khi nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh H, Lâm Tuấn N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với chính lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai của Đoàn Vũ L, ông Đoàn Văn X1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 10/7/2024, bị cáo Nguyễn Minh H đã có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, cùng với bị cáo Lâm Tuấn N1 và Đoàn Vũ L sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Ngoài ra, bị cáo Lâm Tuấn N1 còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để dành cho bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng, ma túy qua giám định là loại Methamphetamine, có khối lượng 0,10850 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Lâm Tuấn N1 có hành vi tàng trữ ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,10850 gam để cho bị cáo Nguyễn Minh H, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 10/CT-VKS-HS ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố các bị cáo Nguyễn Minh H và Lâm Tuấn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, vai trò, mức độ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của các bị cáo Lâm Tuấn N1 và Nguyễn Minh H, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Lâm Tuấn N1 là người thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,10850 gam cho bị cáo Nguyễn Minh H sử dụng, nên bị cáo Nguyễn Minh H là đồng phạm với bị cáo Lâm Tuấn N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên các bị cáo phải gánh chịu trách nhiệm hình sự và hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Nguyễn Minh H và Lâm Tuấn N1 đã đủ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện ma túy mà các bị cáo bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và kinh tế gia đình của chính các bị cáo. Các bị cáo nhận thức rất rõ tác hại của chất ma túy đối với bản thân và xã hội, khi đã nghiện chất ma túy mà không có tiền mua ma túy để sử dụng thì có thể dẫn đến vi phạm pháp luật về các tội chiếm đoạt tài sản, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe người khác và thực hiện việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma túy… Từ đó, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài hơn nhằm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, cũng như góp phần vào công tác tuyên truyền, đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm liên quan đến ma túy.
Tuy nhiên, xét về nhân thân các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Minh H có bà nội (bà Châu Thị L1) là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo Nguyễn Minh H, Lâm Tuấn N1 và của Đoàn Vũ L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu đã đề nghị Trưởng Công an huyện V, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Minh H, do không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên không đủ cơ sở để xử lý là có căn cứ.
Về vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “92/GĐMT-2024”, có 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký ghi tên Quách Thanh T1 thuộc Phòng K Công an tỉnh B (ma túy còn lại sau giám định); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2025).
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Lâm Tuấn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Lâm Tuấn N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: 2.1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh H. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh H chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/10/2024. 2.2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lâm Tuấn N1. Xử phạt bị cáo Lâm Tuấn N1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “92/GĐMT-2024”, có 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh B và chữ ký ghi tên Quách Thanh T1 thuộc Phòng K Công an tỉnh B (ma túy còn lại sau giám định); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế.
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2025).
4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Minh H và Lâm Tuấn N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo Nguyễn Minh H và Lâm Tuấn N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Vĩnh Lợi; - CQCSĐT – CA tỉnh Bạc Liêu; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Lợi; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Hoàng Tính |