vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 26/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H B và 02 đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày: 26 - 3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Sơn.

2. Ông Nguyễn Minh Nguyệt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: H B Hmŏk, sinh ngày 02/8/1998 tại huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nơi thường trú: Buôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Êđê; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông không xác định và bà H B1 Hmŏk , sinh năm 1979.

Bị cáo chưa có chồng, con.

Tiền sự: Ngày 29/3/2024 bị Trưởng Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/QĐXP-ĐCSHS-KTMT về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 24/12/2024.

Tiền án: Không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Bùi Huy N, sinh ngày 06/3/2001, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn V, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Bùi Ngọc T, sinh năm không xác định và bà Lê Thị C, sinh năm 1977.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: không; Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 03/2/2021 bị Trưởng Công an thị trấn B xử phạt vi phạm hành chính tại quyết định số 31/QĐ-XP về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

3/ Họ và tên: Huỳnh Đức T1, sinh ngày 10/10/2001, tại K, Đắk Lắk; Nơi thường trú: Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Huỳnh P, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L (đã chết).

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền sự: không; Tiền án: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Huỳnh P, sinh 1970, có mặt.

Địa chỉ: Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bà Lê Thị C, sinh năm 1977, có mặt.

Trú tại: Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng: Trương Thị Tuyết M, vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Người phiên dịch: Ông Y J Niê K, sinh năm 1967, có mặt.

Địa chỉ: Buôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 14/12/2024, H B Hmǒk, trú tại buôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đón xe thồ đi đến khu vực nghĩa địa đường P, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, gặp một người đàn ông (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý và lấy ra một gói nhựa màu trắng bên trong có chứa chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine đưa cho H B Hmǒk. Sau khi mua được ma túy, H B cất giấu gói ma túy vào túi áo rồi đón xe thồ về lại nhà ở buôn M, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Khi về đến nhà, H B Hmǒk thấy Bùi Huy N, trú tại buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đang chơi ở nhà H B. Một lúc sau, Trương Thị Tuyết M, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố F, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk cũng đến nhà H B chơi cùng H B và N. Đến khoảng 16 giờ 40 cùng ngày 14/12/2024, H B rủ Bùi Huy N đến nhà Huỳnh Đức T1, sinh năm 2001, trú tại buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để sử dụng chất ma túy thì N đồng ý. Sau đó, H B đến đống gạch cạnh nhà lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trước đó mang theo. N điều khiển máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 47T1-XXX (xe của bà Lê Thị C, mẹ ruột của N) chở H B đến nhà T1. Đến cổng nhà T1, H B đưa túi nylon đựng bộ dụng cụ và gói ma túy cho N cầm và mượn xe máy của N quay về nhà H B đón Trương Thị Tuyết M đến nhà T1. Tại nhà T1, T1 cùng với N, H B và M đi vào phòng ngủ của T1 để sử dụng chất ma túy. Sau đó, N lắp ráp bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi dùng kéo cắt gói đựng ma túy và đổ chất ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy, tiếp đó N dùng quẹt gas hơ lửa vào dụng cụ sử dụng ma túy cho T1 hút ma túy, tiếp đến là N tự hơ lửa và hút ma túy, N hút xong đến H B Hmǒk và M. Lúc này, H B yêu cầu N và T1 mỗi người bỏ ra số tiền 100.000 đồng để góp vào tiền H B đã sử dụng để mua ma túy thì N và T1 đồng ý. Khi H B, T1, N và M vừa sử dụng trái phép chất ma túy xong thì bị lực lượng Công an huyện K kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ một bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy cùng các tang vật khác phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: Chất màu nâu vàng bám dính bên trong đầu thổi phồng của 01(một) ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Vì lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K thu giữ: 01 lọ nhựa kích thước (7,5 x 4,5)cm, trên nắp nhựa màu xanh có gắn 01 ống hút nhựa kích thước (8,5 x 0,5)cm; 01 ống thủy tinh được uốn cong và được thổi phồng một đầu (15 x1)cm; 01 quẹt gas màu xanh kích thước (8 x 2,25)cm đã được tháo phần nắp kim loại; 01 quẹt gas màu vàng kích thước (2,25 x 7,5)cm đã được tháo phần đầu; trên đầu được gắn 01 miếng kim loại dạng trụ rỗng có kích thước (1 x 0,2)cm; 01 quẹt gas loại khò màu trắng kích thước (2,25 x 8,5)cm đã bị vỡ phần đầu; trên phần đầu có gắn 01 miếng kim loại được cuộn lại có kích thước (2 x 0,2)cm; 01 kéo bấm cắt chỉ, lưỡi bằng kim loại màu đen, phần tay cầm bằng nhựa màu đen kích thước (10 x 2,5)cm; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, số máy: 5C6J134612, số khung: C6J0FY134607, biển kiểm soát 47T1-XXX.

Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 27/2/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố các bị cáo H B Hmǒk, Huỳnh Đức T1 và Bùi Huy N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H B Hmǒk, Huỳnh Đức T1 và Bùi Huy N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo H B Hmǒk từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Đức T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Xử phạt bị cáo Bùi Huy N từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 lọ nhựa kích thước (7,5 x 4,5)cm, trên nắp nhựa màu xanh có gắn 01 ống hút nhựa kích thước (8,5 x 0,5)cm; 01 ống thủy tinh được uốn cong và được thổi phồng một đầu (15x1)cm; 01 quẹt gas màu xanh kích thước (8 x 2,25)cm đã được tháo phần nắp kim loại; 01 quẹt gas màu vàng kích thước (2,25 x 7,5)cm đã được tháo phần đầu; trên đầu được gắn 01 miếng kim loại dạng trụ rỗng có kích thước (1 x 0,2)cm; 01 quẹt gas loại khò màu trắng kích thước (2,25 x 8,5)cm đã bị vỡ phần đầu; trên phần đầu có gắn 01 miếng kim loại được cuộn lại có kích thước (2 x 0,2)cm; 01 (một) kéo bấm cắt chỉ, lưỡi bằng kim loại màu đen, phần tay cầm bằng nhựa màu đen kích thước (10 x 2,5)cm là các dụng cụ mà các bị cáo dùng làm phương tiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, số máy: 5C6J134612, số khung: C6J0FY134607, biển kiểm soát 47T1-XXX. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên của bà Lê Thị C cho N mượn để sử dụng đi lại. Việc N sử dụng chiếc xe trên đi đến nhà Huỳnh Đức T1 để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bà C không biết nên cần trả lại chiếc xe trên cho bà C là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 14/12/2024, tại buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 đang có hành vi tổ chức cho H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 và Trương Thị Tuyết M cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm 01 bộ công cụ để sử dụng ma túy, bên trong có dính chất dạng tinh thể màu vàng nâu là ma túy Methamphetamine còn sót lại. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 và Trương Thị Tuyết M ngày 15/12/2024 đều dương tính với ma túy Methamphetamine.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo bình thường về thể lực, trí lực, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm….

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) …

b) Đối với 02 người trở lên;

........................”

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về quản lý chất ma tuý, hành vi của các bị cáo là một trong các nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải biết chất ma tuý do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo đã cố ý tổ chức cho người khác sử dụng trái phép. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn do các bị cáo H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 thực hiện, cần phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các tình tiết nhân thân của từng bị cáo làm căn cứ cho quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo H B Hmǒk là người có vai trò tích cực, ngày 14/12/2024 bị cáo đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng và rủ rê các bị cáo N, T1, chở Trương Thị Tuyết M đến nhà T1 cùng sử dụng, trước đó vào ngày 29/3/2024 bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hình chính do hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà thực hiện hành vi tổ chức cho nhiều người khác sử dụng, hành vi của bị cáo H B Hmǒk là nguy hiểm nhất so với các đồng phạm còn lại, cần phải xử lý nghiêm khắc hơn.

Đối với bị cáo Bùi Huy N là người thực hành tích cực, khi được H B Hmǒk rủ sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cáo đồng ý tham gia, bị cáo đã dùng xe mô tô biển kiểm soát 47T1-XXX chở H B Hmǒk từ nhà H B Hmǒk đến nhà T1, mang theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy và ma túy vào nhà T1, đồng ý góp tiền mua ma túy cho H B, nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo ít nguy hiểm hơn so với H B Hmǒk nên cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn.

Đối với Huỳnh Đức T1 khi được H B Hmǒk rủ sử dụng ma túy, bị cáo đồng ý và đã dùng phòng ngủ (nơi ở) của mình để cùng H B Hmǒk, Bùi Huy N và Trương Thị Tuyết M sử dụng trái phép chất ma túy, xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo có phần ít nguy hiểm hơn các bị cáo khác nên xử phạt ở mức độ nhẹ hơn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo H B Hmǒk là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với chị Trương Thị Tuyết M, là người sử dụng trái phép chất ma tuý cùng Huỳnh Đức T1, H B Hmǒk và Bùi Huy N vào ngày 14/12/2024. Quá trình điều tra xác định hành vi của M không cấu thành tội phạm. Trưởng Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Trương Thị Tuyết M về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

Về xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 lọ nhựa kích thước (7,5 x 4,5)cm, trên nắp nhựa màu xanh có gắn 01 ống hút nhựa kích thước (8,5 x 0,5)cm; 01 ống thủy tinh được uốn cong và được thổi phồng một đầu (15x1)cm; 01 quẹt gas màu xanh kích thước (8 x 2,25)cm đã được tháo phần nắp kim loại; 01 quẹt gas màu vàng kích thước (2,25 x 7,5)cm đã được tháo phần đầu; trên đầu được gắn 01 miếng kim loại dạng trụ rỗng có kích thước (1 x 0,2)cm; 01 quẹt gas loại khò màu trắng kích thước (2,25 x 8,5)cm đã bị vỡ phần đầu; trên phần đầu có gắn 01 miếng kim loại được cuộn lại có kích thước (2 x 0,2)cm; 01 (một) kéo bấm cắt chỉ, lưỡi bằng kim loại màu đen, phần tay cầm bằng nhựa màu đen kích thước (10 x 2,5)cm là các dụng cụ mà các bị cáo dùng làm phương tiện tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, số máy: 5C6J134612, số khung: C6J0FY134607, biển kiểm soát 47T1-XXX. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên của bà Lê Thị C cho N mượn để sử dụng đi lại. Việc N sử dụng chiếc xe trên đi đến nhà Huỳnh Đức T1 để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bà C không biết nên cần trả lại chiếc xe trên cho bà C là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo H B Hmǒk 08 (T3) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Huy N 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Đức T1 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.

[2] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 lọ nhựa kích thước (7,5 x 4,5)cm, trên nắp nhựa màu xanh có gắn 01 ống hút nhựa kích thước (8,5 x 0,5)cm; 01 ống thủy tinh được uốn cong và được thổi phồng một đầu (15x1)cm; 01 quẹt gas màu xanh kích thước (8 x 2,25)cm đã được tháo phần nắp kim loại; 01 quẹt gas màu vàng kích thước (2,25 x 7,5)cm đã được tháo phần đầu; trên đầu được gắn 01 miếng kim loại dạng trụ rỗng có kích thước (1 x 0,2)cm; 01 quẹt gas loại khò màu trắng kích thước (2,25 x 8,5)cm đã bị vỡ phần đầu; trên phần đầu có gắn 01 miếng kim loại được cuộn lại có kích thước (2 x 0,2)cm; 01 (một) kéo bấm cắt chỉ, lưỡi bằng kim loại màu đen, phần tay cầm bằng nhựa màu đen kích thước (10 x 2,5)cm.

- Trả cho bà Lê Thị C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh đen, số máy: 5C6J134612, số khung: C6J0FY134607, biển kiểm soát 47T1-XXX.

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana).

[3] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo H B Hmǒk, Bùi Huy N, Huỳnh Đức T1 mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo và các đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ