vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phong Đ phạm tội “Làm nhục người khác”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Phong Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Phong Đ bị truy tố tội làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phong Đ phạm tội “Làm nhục người khác”.
  • Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 25-02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Thanh Phong

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Phong Đ, sinh 1994 tại tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp TANA, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Làm vuông; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Kim K; vợ: Huỳnh Yến N, con: Không; anh, chị em ruột: 01 người; tiền án và tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/12/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Chị Nguyễn Hải A, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Hoàng T, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Anh Phạm Linh P, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

3. Anh Hồ Nhật T, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú: Ấp HD, xã NH, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

4. Bà Nguyễn Kim K, sinh năm 1970; địa chỉ cư trú: Ấp TANA, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

5. Ông Lê Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ cư trú: Ấp TANA, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người làm chứng. Ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Ấp TTB, xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2015, Lê Phong Đ với Nguyễn Hải A quen biết nhau. Đến năm 2016, cả hai đều lập gia đình riêng nên không liên lạc. Khoảng tháng 7/2023, do A đã ly thân chồng nên giữa A với Đ phát sinh tình cảm nam nữ. Thời gian này, cả hai đã nhiều lần quan hệ tình dục tại các nhà nghỉ KT, TV thuộc khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD. Trong những lần quan hệ tình dục, Đ dùng điện thoại di động quay video, lưu lại cảnh Đ và A quan hệ tình dục. Những lúc Đ và A không gặp nhau thì Đ cắt từng đoạn video cảnh cả hai đang quan hệ tình dục gửi qua zalo cho A xem; A cũng chụp những hình ảnh và quay video A đang mặc đồ lót, khoả thân gửi qua zalo cho Đ xem.

Khoảng tháng 7/2024, A đòi chia tay nhưng Đ không đồng ý. Do níu kéo tình cảm không thành nên Đ dùng những hình ảnh và video nhạy cảm của A đăng lên tài khoản facebook “Phuong Pham” do Đ tạo trước đó. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2024 đến tháng 9/2024, Đ đã đăng nhiều lần với tổng cộng 95 hình ảnh và 19 video nhạy cảm của A lên tài khoản facebook “Phuong Pham”. Kể từ tháng 7/2024, Đ bật chế độ công khai cho mọi người xem với lượt tương tác (xem) thấp nhất là 36 lượt, cao nhất là 200 lượt. Ngày 08/9/2024 và 09/9/2024, Đ chụp hình ảnh trong đoạn video cảnh Đ với A đang quan hệ tình dục nhắn tin gửi cho tài khoản facebook “Tuấn Đầm Dơi” của Trần Hoàng T là hàng xóm, ở gần nhà bên chồng A và gửi cho tài khoản facebook “Nhật Trường” của Hồ Nhật T là bạn trai A. Mục đích để mọi người biết Đ và A có tình cảm, đã quan hệ tình dục, không ai dám yêu thương A nữa. Ngoài ra, cũng trong thời gian này Đ còn tạo tài khoản tiktok “@haiau98” để đăng một số hình ảnh và video A mặc đồ lót, với 17 lượt tương tác (thích) nhưng sau đó Đ đã xoá.

Đến ngày 10/9/2024, khi biết những hình ảnh và video nhạy cảm của mình bị phát tán trên mạng xã hội, A cảm thấy xấu hổ nên đã lấy 11 viên thuốc Panadol Ex (trong đó có 01 viên bị bẻ làm đôi) uống tự tử nhưng được ông Nguyễn Minh Đ là cha ruột A phát hiện giật lại, vứt vào vách phòng ngủ. Cùng ngày, A đến Công an huyện Đầm Dơi trình báo sự việc.

Tại Bản kết luận giám định ngày 15/11/2024 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cà Mau, kết luận:

- Những hình ảnh và video đăng tải trên tài khoản facebook Phuong Pham (đăng chế độ công khai) và gửi vào các tài khoản facebook “Nhật Trường”, tài khoản facebook “Tuấn Đầm Dơi” là hành vi vi phạm pháp luật, hành vi vi phạm này được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng; điểm đ khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng; khoản 1, 5 Điều 9 Luật Viễn thông; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ; điểm a, b khoản 1 Điều 101, điểm g khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều 102 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 của Chính phủ.

- Trong số 95 hình ảnh (được kí hiệu từ M1 đến M95) in trắng đen trên khổ giấy A4; 08 hình ảnh (được kí hiệu từ M115 đến M122); 19 video (được kí hiệu từ M96 đến M114) có: 44 hình ảnh và 19 video vi phạm các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông, được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng; điểm đ khoản 1 Điều 8 Luật An ninh mạng; khoản 1, 5 Điều 9 Luật Viễn thông; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ; điểm a, b khoản 1 Điều 101, điểm g khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều 102 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 của Chính phủ.

- Đối với 59 hình ảnh được trưng cầu giám định không rõ là ai, không cụ thể, chưa có cơ sở xác định hành vi vi phạm.

- Hành vi Lê Phong Đ đăng hình ảnh nhạy cảm của Nguyễn Hải A lên tài khoản facebook Phuong Pham (đăng chế độ công khai) và dùng một số hình ảnh chụp ra trong video Đ và A trong lúc quan hệ gửi cho tài khoản facebook “Tuấn Đầm Dơi” và tài khoản facebook “Nhật Trường” cho thấy Lê Phong Đ có hành vi có ý xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân (Nguyễn Hải A). Bởi vì, đây là những hình ảnh và video có tính nhạy cảm, riêng tư của cá nhân Nguyễn Hải A, người đăng (Lê Phong Đ) cố ý đăng để làm nhục cá nhân Nguyễn Hải A có trong hình ảnh và video.

- Hành vi của Lê Phong Đ nêu trên là trái đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc; xúc phạm nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của cá nhân; xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tính của cá nhân, gây ra thiệt hại lớn về mặt tinh thần đối với nạn nhân, Lê Phong Đ mong muốn hoặc để mặc hậu quả xấu về uy tín, nhân phẩm, danh dự của nạn nhân xảy ra.

- Những người tương tác ảnh và video (bạn bè) là ai, địa chỉ cụ thể: Đối với nội dung này không có cơ sở để giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 5743/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi tên Hồ Chí Tâm, Võ Văn Tại, Nguyễn Minh Đương và hình dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi. Bên trong có 10 viên + 02 mảnh vỡ màu trắng có chữ Panadol Ex. Mẫu vật được niêm phong, gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất độc thường gặp.

- Uống 11 viên thuốc có gây chết người hay không đề nghị liên hệ với Viện kiểm nghiệm thuốc - Bộ Y tế để hỗ trợ giải quyết hoặc các cơ quan chuyên môn của ngành y tế.

Tại Công văn số 1083/VKNT-KHTH ngày 28/10/2024 của Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Y tế, thể hiện: Không có đủ cơ sở để trả lời nội dung “uống 11 viên thuốc có gây chết người hay không”.

Vật chứng thu giữ:

- 11 viên thuốc Panadol Ex (10 viên nguyên vẹn, 01 viên bị bẻ làm đôi);

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng, ốp lưng màu đen, gắn sim số 0949.413.419;

- 01 USB chứa nội dung bên trong có 07 ảnh nhạy cảm, 01 đoạn video dung lượng thời gian 03 phút và 01 đoạn video dung lượng thời gian 01 phút 51 giây.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax gắn sim số 0949.413.419 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tạm giữ, quản lý theo quy định; 01 USB đã được đưa vào lưu cùng hồ sơ vụ án. Riêng đối với 11 viên thuốc Panadol Ex đã sử dụng hết mẫu giám định.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Lê Phong Đ về tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 128.000.000đ.

Chị Nguyễn Hải A trình bày: Về trách nhiệm hình sự: Chị yêu cầu Hội đồng xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Chị yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 128.000.000đ sau khi đã trừ số tiền đã bồi thường 40.000.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đ phạm tội “Làm nhục người khác”. Xử phạt: Bị cáo Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự: Yêu cầu hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Về vật chứng: 11 viên thuốc Panadol Ex (10 viên nguyên vẹn, 01 viên bị bẻ làm đôi) đã sử dụng hết nên không xem xét. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng, ốp lưng màu đen, gắn sim số 0949.413.419. tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung bên trong có 07 ảnh nhạy cảm, 01 đoạn video dung lượng thời gian 03 phút và 01 đoạn video dung lượng thời gian 01 phút 51 giây.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã thấy được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải nên rất mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về trách nhiệm hình sự:

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời trình bày của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2024 đến tháng 9/2024, Đ đã đăng nhiều lần với tổng cộng 95 hình ảnh và 19 video nhạy cảm của A lên tài khoản facebook “Phuong Pham”. Kể từ tháng 7/2024, Đ bật chế độ công khai cho mọi người xem với lượt tương tác (xem) thấp nhất là 36 lượt, cao nhất là 200 lượt. Ngày 08/9/2024 và 09/9/2024, Đ chụp hình ảnh trong đoạn video cảnh Đ với A đang quan hệ tình dục nhắn tin gửi cho tài khoản facebook “Tuấn Đầm Dơi” của Trần Hoàng T là hàng xóm, ở gần nhà bên chồng A và gửi cho tài khoản facebook “Nhật Trường” của Hồ Nhật T là bạn trai A. Mục đích để mọi người biết Đ và A có tình cảm, đã quan hệ tình dục, không ai dám yêu thương A nữa. Ngoài ra, cũng trong thời gian này Đ còn tạo tài khoản tiktok “@haiau98” để đăng một số hình ảnh và video Âu mặc đồ lót, với 17 lượt tương tác.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát thay đổi quan điểm truy tố bị cáo Đ từ điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự thành điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự. Xét thấy:

Tại phiên Tòa, lời khai của bị hại và ông Đ có sự mâu thuẫn, cụ thể: Lúc đầu bị hại và ông Đ xác định ngày 10/9/2024, bị hại A ở nhà sau đó đi trình báo sự việc cho Công an. Nhưng sau khi Thẩm phán công bố Biên bản ghi lời khai của bị hại A vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/9/2024 thì lại xác định bị hại có đi làm tại quán Nhi Nhỏ. Bị hại và ông Đương xác định địa điểm lấy thuốc khác nhau. Trong khi đó, tại Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 10/9/2024, Biên bản ghi lời khai của bị hại A vào hồi 14 giờ 05 phút ngày 10/9/2024, Biên bản ghi lời khai của bị hại A vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/9/2024 đều không có trình báo tình tiết bị hại A đã uống thuốc tự tử.

Theo Biên bản ghi lời khai của bị hại A vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 10/9/2024 thể hiện “… mẹ chồng tôi gọi điện thoại cho tôi hỏi: “con làm cái gì mà hình ảnh của con người ta đăng tè le trên mạng hết dị A., sao không kỹ lưỡng gì hết vậy, con làm vậy là làm khổ cho con của con rồi đó”; nghe vậy, tôi trả lời là người ta làm con không có biết, rồi tôi tắt điện thoại vì quán đang có khách (tôi làm phục vụ quán Nhi Nhỏ). Tôi thấy Đ cố tình làm nhục tôi, nên tôi đến cơ quan Công an trình báo…”. Theo nội dung trên, vào ngày 10/9/2024 bị hại A làm ở quán Nhi Nhỏ và sau đó đi trình báo Công an huyện Đầm Dơi.

Đồng thời, sự việc xảy ra ngày 10/9/2024 nhưng đến ngày 13/9/2024, ông Đ mới trình báo tình tiết bị hại uống thuốc tự sát và sự việc này chỉ có bị hại và ông Đ biết.

Nên không đủ cơ sở truy tố bị cáo Đ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 155 Bộ luật Hình sự với tình tiết “làm nạn nhân tự sát”.

Do bị cáo Đ đã nhiều lần sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử đăng các hình ảnh bị hại Âu nhằm xúc phạm bị hại. Nên đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.

Theo điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để

phạm tội”.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trước, trong và sau khi phạm tội, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gián tiếp gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 40.000.000đ. Nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên Tòa, bị cáo tha thiết xin lỗi bị hại, đã thấy được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và có thiện chí bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt và địa chỉ cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo chấp hành án có điều kiện, cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 11 viên thuốc Panadol Ex (10 viên nguyên vẹn, 01 viên bị bẻ làm đôi) đã được sử dụng hết để giám định nên không xem xét. 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng, ốp lưng màu đen, gắn sim số 0949.413.419 là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 USB chứa nội dung bên trong có 07 ảnh nhạy cảm, 01 đoạn video dung lượng thời gian 03 phút và 01 đoạn video dung lượng thời gian 01 phút 51 giây được lưu giữ trong hồ sơ nên được tiếp tục lưu trong hò sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại 128.000.000đ. Xét thấy, việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị hại phải chịu 128.000.000đ x 5% = 6.400.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phong Đ phạm tội “Làm nhục người khác”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Lê Phong Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Phong Đ cho Ủy ban nhân dân xã TAKN, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585 và Điều 592 của Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lê Phong Đ, buộc bị cáo Điền bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Hải A số tiền 128.000.000đ (một trăm hai mươi tám triệu đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu vàng, ốp lưng màu đen, gắn sim số 0949.413.419.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025).

Giữ lại 01 USB chứa nội dung bên trong có 07 ảnh nhạy cảm, 01 đoạn video dung lượng thời gian 03 phút và 01 đoạn video dung lượng thời gian 01 phút 51 giây để lưu trong hồ sơ vụ án.

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Phong Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị cáo Lê Phong Đ phải chịu 6.400.000đ (sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, anh Trường, bà Khoa và ông Thung có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tuấn và anh Phi có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ