- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phan Anh Q cùng đồng phạm phạm tội buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Các bị cáo Phan Anh Q, Nguyễn Đức L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Các bị cáo ĐInh Văn D, Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HSST Ngày: 28/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Bùi Đình Thông
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lê Như Long
2, Ông Trần Văn Khoát
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Anh Th - Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phan Anh Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1986; Nơi cư trú: Thôn NL, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan Chí Th, Con bà: Thái Thị H; Vợ: Trần Lệ Th; Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 03/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 28 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 15/4/2020, chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích).
Ngày 18/12/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tại bản án số 107/2023/HS-PT. Ngày 18/01/2024, bị cáo chấp hành hình phạt tại xã Lâm Trung Thủy, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Đức L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 02 năm 1979; Nơi cư trú: Thôn NL, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đức L (Đã chết), Con bà: Nguyễn Thị Nh; Vợ: Nguyễn Thị H; Con: Có 04 người, đứa lớn nhất sinh năm 2002, đứa nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
3. Đinh Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 08 năm 2004; Nơi cư trú: Thôn NL, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Đinh Văn H, Con bà: Nguyễn Thị Th; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn Ph; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 07 năm 1996; Nơi cư trú: Thôn NL, xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn T, Con bà: Đinh Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Đức L; Sinh: 22/12/2002; Trú tại: Hẻm 1, Thân Nhân Trung, phường Tr Đ, Thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).
2. Anh Đặng H; Sinh: 1985; Trú tại: 96/84/12, tổ 9, đường TA35, khu phố 5, phường ThA, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối năm 2022, Phan Anh Q bắt xe buýt từ nhà mình lên khu vực xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh mua của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi và địa chỉ) 10 hộp pháo, loại 36 quả với giá 4.000.000 đồng nhằm mục đích về sử dụng vào dịp tết Nguyên đán năm 2023. Sau khi mua pháo về, Q cất dấu pháo tại nhà mình và không cho ai biết. Khi đến tết Nguyên đán năm 2023, Phan Anh Q xảy ra tai nạn giao thông nên chưa sử dụng số pháo trên. Đến khoảng đầu tháng 12/2023, trong lúc ngồi ăn uống với Nguyễn Đức L, L hỏi Q: Có pháo không, để anh mấy dàn về nổ tết, Q nói: Có và hỏi: Anh lấy mấy dàn, L nói: Lấy cho anh 02 dàn. Sau đó, L sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 50Y1-234.44 đến nhà Q, Q lấy 02 hộp pháo rồi cho vào túi bóng màu đen đưa cho L. L hỏi Q: Lấy mấy tiền để gửi, Q nói: Lấy một dàn (01 hộp) 800.000 đồng, L đồng ý và nói: Tiền anh đưa sau, Q đồng ý rồi L cầm lấy pháo đi về cất dấu trong tủ quần áo của mình. Khoảng một tuần sau, L lấy 18 quả pháo trong một hộp pháo nổ thử. Còn 18 quả, L cất dấu lại trong tủ quần áo. Khoảng 02 ngày sau, ĐInh Văn D đến nhà L hỏi mua pháo và L đã bán cho D 18 quả với giá 400.000 đồng. Sau khi mua pháo về, D lấy 03 quả ra nổ thử, còn 15 quả pháo D cất dấu dưới gầm giường của mình không để ai biết. Đến khoảng 11 giờ ngày 23/12/2023, D đi bộ từ nhà mình đến nhà Nguyễn Văn Ph nhằm mục đích rủ Ph chung nhau góp tiền mua pháo của L về sử dụng thì Ph đồng ý. Ph điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Air Blade, biển kiểm soát 38D1-297.57 chở D đến nhà L. Khi gặp L, D hỏi: Chú có pháo bán không? Quả bao nhiêu? (ý D là 01 hộp pháo bao nhiêu tiền), L trả lời: Có, giá một triệu hai một quả, L hỏi D và Ph: Lấy mấy hộp, D nói: Lấy bốn hộp. Lúc này, L sử dụng điện thoại Oppo F9, gắn sim số 0911233033 gọi vào số điện thoại 0947.981.168 cho Q hỏi: Có pháo không, để cho mấy giàn, Q nói: Lấy mấy giàn, L nói: Lấy bốn giàn, thì Q đồng ý. Sau khi gọi điện cho Q, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển kiểm soát 50Y1-234.44 đến nhà Q mua pháo, Q đã bán cho L 04 hộp pháo hoa nổ loại 36 quả được đựng trong túi xách bằng giấy, màu vàng. L cầm lấy rồi nói với Q: Tiền anh trả sau, Q đồng ý. Khi L mua pháo về thì D nói với L: Lấy cho một cái, không có tiền (Ý là D và Ph hiện chưa có tiền nên chỉ mua 01 hộp). Lúc này, L lấy 01 hộp pháo trong số 04 hộp pháo vừa mua tại nhà Q bán cho D, D cầm lấy bỏ vào cốp xe mô tô rồi cùng Ph đi về nhà. Khoảng 30 phút sau thì D và Ph quay lại trả cho L 1.200.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, D và Ph lấy hộp pháo đã mua từ L ra cánh đồng gần nhà Ph sử dụng hết. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, D tiếp tục đi bộ sang nhà Ph rồi cả hai người bàn bạc, thống nhất chung nhau tiền mua 06 hộp pháo. Ph tiếp tục sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 38D1-297.57, chở D đến nhà L. Khi gặp L, D nói: Có pháo bán cho cháu 6 hộp. Lúc này, do trong nhà không đủ 06 hộp pháo nên L tiếp tục gọi cho Q nói: Lấy thêm cho anh ba cái, thì Q đồng ý. L tiếp tục sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 50Y1-234.44 đến nhà Q và được Q bán cho 03 hộp pháo loại 36 quả được đựng trong bao tải màu vàng. L cầm lấy rồi nói: Tiền anh trả sau, Q đồng ý. L đi về nhà đưa cho D bao tải màu vàng bên trong có 03 hộp pháo mới mua từ Q rồi đi vào tủ quần áo lấy ra 03 hộp pháo đựng trong túi xách bằng giấy, màu vàng đưa cho D. Sau khi nhận pháo thì D và Ph nói với L: Tiền bữa sau đưa, thì được L đồng ý. Ph và D để bao tải đựng 03 hộp pháo vào gác ba ga xe, còn 03 hộp bỏ cốp xe và vứt túi xách bằng giấy, màu vàng tại nhà L rồi đi về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, khi đi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Tường Vân, xã Lâm Trung Thủy, huyện Đức Thọ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại vị trí gác ba ga giữa xe có 01 (một) bao tải màu vàng, bên trong bao tải có 03 (ba) khối hộp có kích thước (15x15x13)cm bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài; bên trong cốp xe mô tô có 03 (ba) khối hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển kiểm soát 38D1-297.57, màu sơn xám; 01 chiếc điện thoại di động Oppo Reno 6, màu xanh, bên trong chứa sim số 0869.437.243 và sim số 0987.387.249, điện thoại đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu trắng, bên trong không có sim số, điện thoại đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của D thu giữ 15 vật hình trụ tròn, màu nâu, được liên kết với nhau bằng sợi dây màu xanh, kích thước (10x6x10)cm; đường kính mỗi hình trụ là 0,5cm.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, L thừa nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 khối hình hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài; Q giao nộp 01 khối hình hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 36 thanh trụ tròn được liên kết với nhau.
Tại bản kết luận số 55/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
03 (ba) khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được đựng trong một bao tải màu vàng gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 04kg.
03 (ba) khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 04kg.
15 (mười lăm) vật hình trụ tròn, màu nâu, được liên kết với nhau bằng sợi dây màu xanh, đường kính một hình trụ là 0,5cm, kích thước cả 15 vật (10x10x6)cm gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 0,41kg.
Tại bản kết luận số 56/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
01 (Một) khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được đựng trong một bao tải màu vàng gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,36kg.
Tại bản kết luận số 53/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:
01 (Một) khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được đựng trong một bao tải màu vàng gửi giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 1,34kg.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình bắt người phạm tội quả tang thu giữ tại Đinh Văn D, Nguyễn Văn Ph:
03 khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, được đựng trong một bao tải màu vàng, có khối lượng 04 kilôgam sau khi trừ mẫu giám định còn 3,93 kilôgam.
03 khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ tròn liên kết với nhau, có khối lượng 04 kilôgam sau khi trừ mẫu giám định còn 3,93 kilôgam.
01 (một) điện thoại di động Oppo Reno 6, màu xanh, bên trong chứa sim số 0869.437.243 và sim số 0987.387.249, điện thoại đã qua sử dụng (Thu giữ tại Nguyễn Văn Ph);
01 (một) điện thoại di động Iphone 6, màu trắng, bên trong không có sim số, điện thoại đã qua sử dụng (Thu giữ tại Đinh Văn D).
01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, BKS 38D1 - 297.57, màu sơn xám, xe đã qua sử dụng (Thu giữ tại Nguyễn Văn Ph).
Thu giữ trong quá trình khám xét chổ ở của Đinh Văn D: 15 vật hình trụ tròn, màu nâu, được liên kết với nhau bằng sợi dây màu xanh, đường kính một hình trụ là 0,5cm, kích thước cả 15 vật (10x10x6)cm, có khối lượng 0,41 kilôgam sau khi trừ mẫu giám định còn 0,34 kilôgam.
Thu giữ tại Nguyễn Đức L: 01 khối hình hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 36 thanh trụ tròn được liên kết với nhau, có khối lượng 1,36 kilôgam sau khi trừ mẫu giám định còn 1,29 kilôgam.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu tím, gắn sim số 0392740362 và sim số 0911.233.033, số IMEI 1 866376042904398, số IMEI 2 866376042904380.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn Trắng Đen, biển kiểm soát 50Y-234.44.
Thu giữ tại Phan Anh Q: 01 khối hình hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 36 thanh trụ tròn được liên kết với nhau, có khối lượng 1,34 kilôgam sau khi trừ mẫu giám định còn 1,27 kilôgam.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, gắn sim số 0947.981.168.
Tất cả các vật chứng nói trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ để xử lý theo quy định.
Đối với số pháo các bị cáo Nguyễn Đức L, Đinh Văn D, Nguyễn Văn Ph mua và các bị cáo đã sử dụng nên không thu giữ được. 01 túi bóng đen và 01 túi xách bằng giấy, màu vàng mà Phan Anh Q sử dụng để đựng pháo bán cho Nguyễn Đức L Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.
Tại bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS-ĐT ngày 06 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ đã truy tố Phan Anh Q, Nguyễn Đức L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự; Đinh Văn D, Nguyễn Văn Ph về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Anh Q mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù và áp dụng điểm b khoản 1 Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số 107/2023/HS-PT, ngày 18/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo được trừ thời hạn đã chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 28/3/2024 là được 71 ngày, được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù là 23,6 ngày (24 ngày). Bị cáo còn phải chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ 21 tháng 06 ngày tương đương (649 ngày). Bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù buộc bị cáo phải chấp hành 07 tháng 06 ngày tại bản án 107/2023/HS-PT, ngày 18/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 24 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tổng hợp chung hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 19 tháng 06 ngày đến 22 tháng 06 ngày kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 đến 30 tháng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo ĐInh Văn D mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Thời gian thử thách 18 đến 24 tháng. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph mức án từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 đến 20 tháng. Giao các bị cáo Nguyễn Đức L, Đinh Văn D và Nguyễn Văn Ph cho UBND xã Lâm Trung Thủy giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Lâm Trung Thủy trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo
Đề nghị không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng, truy thu số tiền thu lợi bất chính và án phí theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ cũng đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận trong quá trình hỏi cung đều được tự nguyện khai báo, không bị bức cung, mớm cung hay nhục hình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, các lời khai và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12/2023 đến ngày 23/12/2023, Phan Anh Q đã có hành vi buôn bán 11,11 kilôgam hàng cấm (pháo) và đã bán cho Nguyễn Đức L 9,77kilôgam hàng cấm (pháo). Sau khi mua pháo của Phan Anh Q, Nguyễn Đức L đã bán lại cho Đinh Văn D 0,41 kilôgam hàng cấm (pháo); bán lại cho ĐInh Văn D, Nguyễn Văn Ph 08 kilôgam hàng cấm (pháo). Đến khoảng 18 giờ ngày 23/12/2023, tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn Tường Vân, xã Lâm Trung Thủy, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Thọ phát hiện, bắt quả tang Đinh Văn D và Nguyễn Văn Ph có hành vi tàng trữ trái phép 08kilôgam hàng cấm (pháo) nhằm mục đích sử dụng. Đinh Văn D còn có hành vi tàng trữ thêm 0,41kilôgam hàng cấm (pháo) tại nhà mình nhằm mục đích sử dụng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo Phan Anh Q, Nguyễn Đức L đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, hành vi của các bị cáo ĐInh Văn D, Nguyễn Văn Ph đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”. Vì vậy, việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không oan sai. Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-ĐT ngày 06 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn chính xác. Tại phiên tòa lời luận tội của Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo cũng như các vấn đề khác về cơ bản là phù hợp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật đã nghiêm cấm tàng trữ, mua bán hàng cấm (pháo). Vậy mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua bán, tàng trữ hàng cấm (pháo). Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm nhằm răn đe giáo dục riêng đối với các bị cáo và ngăn chặn, phòng ngừa chung.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phan Anh Q Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử, nhưng bị cáo vẫn không chịu lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân mà lại thực hiện việc mua bán hàng cấm. Mặc dù biết được việc mua bán hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật, mua bán hàng cấm. Trong vụ án này, bị cáo mua tổng số 10 hộp pháo và trực tiếp bán lại cho cho Nguyễn Đức L 03 lần nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng pháo Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được và giữ vai trò chính. Hiện bị cáo đang chấp hành hình phạt phạt “Cải tạo không giam giữ” từ ngày 18/01/2024 tại UBND xã Lâm Trung Thủy theo bản án số 107/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế. Vì vậy, cần phải tổng hợp đối với phần hình phạt còn lại mà bị cáo chưa thi hành tại bản án này. Cụ thể: Bị cáo bị xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ (720 ngày), trừ thời hạn đã chấp hành hình phạt từ ngày 18/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 28/3/2024 là 71 ngày, số ngày còn lại 649 ngày được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ chuyển đổi thành 01 ngày tù (649 : 3 = 216 ngày bằng 07 tháng 06 ngày) và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
Nhưng khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, thái độ khai báo thành khẩn, có bố là ông Phan Chí Thành được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạnh ba. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức L Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người đã mua pháo từ bị cáo Phan Anh Q và đã trực tiếp bán lại cho Nguyễn Văn Ph và Đinh Văn D để kiếm lời. Bị cáo cũng biết được việc buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng do lợi nhuận nên bị cáo đã bất chấp pháp luật, buôn bán hàng cấm. Vì vậy, cũng cần phải xét xử nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Nhưng cũng cần xem xét cho bị cáo, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình, có bố là ông Nguyễn Đức L, và mẹ là bà Nguyễn Thị Nh được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạnh nhì và Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì. Vì vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước tới nay chưa bao giờ phạm tội và việc cho bị cáo được hưởng án treo không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy, không cần thiết phải xử cách ly đối với bị cáo mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương là cũng đủ nghiêm để cải tạo giáo dục đối với bị cáo.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn D, Nguyễn Văn Ph Hội đồng xét xử thấy rằng:
Cả hai bị cáo tuổi đời còn trẻ, các bị cáo cũng biết được việc tàng trữ hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng cũng do ăn chơi, đua đòi, thích thể hiện nên đã phạm tội. Vì vậy, cũng cần phải xét xử nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Nhưng cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo, thái độ khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cũng do suy nghĩ nông cạn mà phạm tội, bị cáo Ph có thời gian tham gia Q ngũ. Vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Văn Ph được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét cả hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải xử cách ly đối với các bị cáo mà cho cả hai bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương là cũng đủ nghiêm để cải tạo giáo dục đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, số pháo Q đã bán cho L 03 lần nhưng Q mua một lần rồi bán dần nên Q không phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Còn L đã bán cho D 01 lần 18 quả với giá 400.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại chổ ở của D 0,41 kilôgam pháo. Do khối lượng không đủ và ở lần mua, bán khác nên L không phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng pháo này. Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ đã có Công văn đề nghị Chủ tịch UBND huyện Đức Thọ ra quyết định xử phạt hành chính theo thẩm quyền là có căn cứ.
Đối với số pháo mà L, D và Ph sau khi mua về đã sử dụng Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông tại khu vực xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã bán pháo nổ cho Q, do còn thiếu thông tin, nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý.
Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có công việc làm ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng các quy định của pháp luật xử lý số vật chứng đang có tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đức thọ, tỉnh Hà Tĩnh đúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Đối với hàng cấm (pháo) và một bao tải màu vàng đã thu giữ là vật chứng của vụ án, là vật cấm tàng trữ, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy. Một xe máy loại Air Blade; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu tím; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện để phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ của nhà nước. Một điện thoại di động Oppo Reno 6, màu xanh; Một điện thoại di động Iphone 6, màu trắng, các bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn Trắng Đen, thu giữ tại bị cáo L. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô này là của anh Đặng Hoàng tặng cho anh Nguyễn Đức Long (là con trai bị cáo L) hiện anh L1 chưa làm thủ tục sang tên. Việc bị cáo L sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi mua bán hàng cấm anh L1 không biết. Anh L1 có đơn xin nhận lại tài sản nên cần trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định.
Đối với số tiền (nợ) mua, bán pháo tại Nguyễn Đức L; Đinh Văn D và Nguyễn Văn Ph là khoản tiền bất chính nên cần truy thu, sung công quỹ nhà nước.
Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Các bị cáo Phan Anh Q, Nguyễn Đức L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Các bị cáo ĐInh Văn D, Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38,điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 55, 56 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Anh Q 12 (mười hai) tháng tù, tổng hợp với 07 tháng 06 ngày tù tại bản án số 107/2023/HS-PT ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế mà bị cáo chưa thi hành. Xử buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 19 (Mười chín) tháng 06 (Sáu) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đinh Văn D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ph 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao 03 bị cáo Nguyễn Đức L, Đinh Văn D, Nguyễn Văn Ph cho UBND xã LTT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Không xử phạt tiền đối với các bị cáo.
[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 08 khối hình hộp có kích thước (15x15x13)cm, bên ngoài có in hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, 15 vật hình trụ tròn có khối lượng 0,34 kilôgam và bao tải, hộp cát tông (là các vật chứng có dấu + thứ 1, 2, 3, 4, 5 trong biên bản giao nhận vật chứng);
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: Một xe máy nhãn hiệu Honda, loại Air Blade thu giữ tại Nguyễn Văn Ph; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu tím thu giữ tại Nguyễn Đức L; Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh thu giữ tại Phan Anh Q.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Ph: Một điện thoại di động Oppo Reno 6, màu xanh; Trả lại cho bị cáo Đinh Văn D: Một điện thoại di động Iphone 6, màu trắng; Trả lại cho anh Nguyễn Đức L1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn Trắng Đen.
Tình trạng đặc điểm cụ thể của các vật chứng có trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024 giữa Cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Đức L số tiền 5.600.000đồng bị cáo sử dụng để mua pháo của bị cáo Phan Anh Q nhưng chưa trả tiền.
Truy thu từ bị cáo ĐInh Văn D và Nguyễn Văn Ph số tiền 7.200.000đồng các bị cáo sử dụng để mua pháo của bị cáo Nguyễn Đức L nhưng chưa trả tiền. Kỹ phần mỗi bị cáo phải nộp 3.600.000đ.
[4] Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Đức Thọ; - CQCSĐT huyện Đức Thọ; - CQTHAHS huyện Đức Thọ; - Chi cục THADS Đức Thọ; - Bộ phận THA Hình sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HS,VT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đình Thông |