- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo TMC.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HS-ST Ngày 23 - 02 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông PHN.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Tấn Hùng.
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông TNA- Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông NKV - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST- HS, ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 01 năm 202, thông báo chuyển ngày xét xử số 276/TB – TA ngày 16 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: TMC; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 12 năm 1984; nơi cư trú: Tổ 09, phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Minh Hùng và bà: Lê Thị Nga; tiền án: Bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 07/2006/HSPT ngày 20/02/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, hình phạt 30 tháng tù. Chưa được xóa án tích; bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HSST ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hình phạt 06 tháng 15 ngày tù. Chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: PQT; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 5 năm 1990; nơi cư trú: Thôn Đại Xuân, xã Hành Thuận, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: PNT và bà: Trần Thị Thu Ba; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: VĐT; tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 2002; nơi cư trú: Thôn Bàu Chuốc, xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Huy Thịnh và bà: Nguyễn Thị Phượng; tiền án: Không có; tiền sự: Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 17/02/2022 của Công an xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn; hình thức xử phạt: Phạt tiền 1.500.000 đồng; đã nộp phạt xong ngày 17/02/2022; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Anh LTV, sinh năm 1993.
(Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Trú tại: Thôn 1, xã Nghĩa Dũng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông PNT, sinh năm 1965.
(Có mặt)
Trú tại: Thôn Đại Xuân, xã Hành Thuận, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Nguyễn Công Viễn, sinh năm 1989.
(Vắng mặt)
Trú tại: Thôn 3, xã Nghĩa Dõng, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người làm chứng:
Anh NTQ, sinh năm 1990.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: 129/1 Nguyễn Cư Trinh, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa; nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 27/4/2022, TMC cùng VĐT đang ngồi ở quán cà phê phía trước Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi thì nhìn thấy xe taxi SUN BKS 76F-001.80 chạy ngang qua. Chính nhớ lại sự việc vào cuối năm 2021 có bỏ quên 01 điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền 6.000.000 đồng trên xe taxi này khi đi từ quán Karaoke trên đường Trần Quang Diệu, thành phố Quảng Ngãi đến huyện Bình Sơn. Ngày hôm sau, Chính có điện thoại xin chuộc lại nhưng tài xế không cho và thách thức Chính. Chính điện thoại cho tổng đài SUN TAXI yêu cầu xe taxi SUN BKS 76F-001.80 đến cổng Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi để đón Chính đi N, mục đích là để tìm đánh tài xế taxi vì đã không trả lại điện thoại, tiền mà còn thách thức Chính. Sau đó, LTV điều khiển xe taxi SUN BKS 76F-001.80 đến cổng Bệnh viện và đón Chính, Trọng để chở lên N. Khi lên xe, Chính xác định đúng Vũ là tài xế đã chở Chính vào cuối năm 2021 nên trên đường đi, Chính điện thoại cho PQT để nhờ Truyền chạy lên xã Hành Thiện chở Chính về. Truyền đồng ý và điều khiển xe ô tô hiệu Innova BKS 76A-06.053 chạy đến khu vực gần đèo Eo Gió thuộc xã Hành Thiện, huyện N đứng đợi Chính. Khoảng vài phút sau, xe taxi của Vũ chở Chính, Trọng đến nơi. Tới nơi, Chính xuống xe, nói với Truyền và Trọng là Chính đã tìm ra người lấy tiền và điện thoại của Chính, đó là Vũ, người lái xe taxi chở Chính và Trọng lên. Truyền nghe vậy thì đến xe taxi, hỏi Vũ và yêu cầu Vũ xuống xe nói chuyện. Vũ vừa mở cửa xe thì Truyền dùng tay chụp cổ áo Vũ lôi đến trước đầu xe ô tô BKS 76E-001.80. Truyền hỏi Vũ: “Đợt trước mày lấy điện thoại với tiền của ông Chính, anh của tao đúng không?”, Vũ nói: “Không có lấy anh” thì Truyền dùng tay tát vào mặt Vũ 01 cái, Chính dùng tay tát vào mặt Vũ 02 cái và dùng chân đá vào mặt Vũ 01 cái, sau đó Trọng dùng chân đá vào mặt Vũ 01 cái. Lúc này Vũ thừa nhận có lấy điện thoại chứ không lấy tiền, điện thoại Vũ đã cho bạn tên Cường ở thành phố Quảng Ngãi mượn dùng, giờ để Vũ xuống lấy trả lại cho Chính. Lúc này Truyền tiếp tục dùng tay tát vào mặt Vũ 02 cái và nói “Hồi nãy không nói sớm để khỏi bị đánh”, tiếp đó Chính, Trọng dùng chân, tay tiếp tục đánh Vũ nhiều cái. Sau đó Vũ vào xe ô tô taxi BKS 76E-001.80 để chở Chính, Truyền và Trọng xuống thành phố Quảng Ngãi để lấy điện thoại nhưng thấy Vũ có biểu hiện choáng, mệt nên Truyền điều khiển xe taxi chở Vũ và Chính ngồi sau, còn Trọng điều khiển xe Innova của Truyền cùng đi xuống thành phố Quảng Ngãi. Trên đường đi Vũ bị nôn ói nên khi đến đoạn đường mương kênh gần khu dân cư Đồng Xít, thị trấn Chợ Chùa thì Truyền dừng xe lại để Truyền và Chính rửa chân tay vì bị Vũ ói lên người. Khi rửa chân tay xong, Vũ gọi điện cho Cường nhưng Cường không bắt máy nên Vũ hứa với Chính “Bốn rưỡi đến năm giờ ngày mai sẽ lấy điện thoại đem trả”, nghe vậy thì Chính đồng ý. Sau đó Chính, Truyền và Trọng để Vũ lại với xe taxi còn Truyền điều khiển xe Innova chở Chính, Trọng về nhà ở phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi rồi Truyền về phòng trọ ở đường Nguyễn Thụy ngủ. Còn Vũ sau đó gọi điện thoại cho NTQ đến chở Vũ đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 141/TgT ngày 23/5/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi xác định thương tích của LTV là 16%, phù hợp vật tày gây thương tích.
Cáo trạng số 24/CT-VKS - NH, ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo TMC về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại các điểm d, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; các bị cáo PQT, VĐT về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo TMC, PQT và VĐT phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng: Các điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo TMC.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo PQT.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo VĐT
+ Xử phạt: Bị cáo TMC, từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù
, thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
+ Xử phạt: Bị cáo VĐT, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù , thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
+ Xử phạt: Bị cáo PQT, từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù
, thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
- Trả lại cho bị cáo PQT 5.000.000đ.
- Trả lại cho bị cáo VĐT 7.000.000đ.
Về án phí: Các bị cáo TMC, PQT và VĐT phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận vào khoảng 22 giờ 00 ngày 27/4/2022, các bị cáo TMC cùng VĐT đang ngồi ở quán cà phê phía trước Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi thì nhìn thấy xe taxi SUN BKS 76F-001.80 chạy ngang qua, bị cáo C nhớ lại sự việc vào cuối năm 2021 có bỏ quên 01 điện thoại di động hiệu OPPO và số tiền 6.000.000 đồng trên xe taxi này khi đi từ quán Karaoke trên đường Trần Quang Diệu, thành phố Quảng Ngãi đến huyện Bình Sơn. Ngày hôm sau, Chính có điện thoại xin chuộc lại nhưng tài xế không cho và thách thức Chính. Bị cáo C đã điện thoại cho tổng đài SUN TAXI yêu cầu xe taxi SUN BKS 76F-001.80 đến cổng Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi để đón Chính đi N, mục đích là để đánh tài xế taxi vì đã không trả lại điện thoại, tiền mà còn thách thức bị cáo và bị cáo C điện thoại cho bị cáo PQT để nhờ Truyền chạy lên xã Hành Thiện, huyện N chở Chính về. Khoảng 22h30 cùng ngày khi đến đoạn đường gần Đèo Eo Gió, xã Hành Thiện, huyện N các bị cáo đã dùng tay, chân đánh anh LTV để đòi lại máy điện thoại mà bị cáo C cho rằng bị cáo đã bỏ quên trước đây trên xe anh Vũ mặc dù không có căn cứ chính anh Vũ là người đã lấy Điện thoại của bị cáo C và gây thương tích cho anh LTV.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 141/TgT ngày 23/5/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Ngãi xác định thương tích của LTV là 16%, phù hợp vật tày gây thương tích.
Vậy có căn cứ kết luận bị cáo TMC phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d, đ Điều 134 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo PQT và VĐT phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mặc dù chỉ nghi ngờ anh Vũ lấy điện thoại của bị cáo C mà các bị cáo đã vô cớ gây thương tích cho anh Vũ nên cần xử phạt các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Bị cáo TMC từng đã bị hai Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo chưa được xóa án tích, phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm, bị cáo chỉ vì nghi ngờ anh Vũ lấy điện thoại của mình mà còn thách thức nên đã rủ các bị cáo khác đánh gây thương tích cho anh Vũ nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo VĐT đã bị Công an xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 17/02/2022 nhưng bị cáo không tu sửa bản thân mà chỉ vì nghe lời bị cáo C mà đã có hành vi xâm hại đến sức khỏe của anh Vũ nên cần xử phạt bị cáo một phần hình phạt tương ứng với hành vi của bị cáo.
Về nhân thân bị cáo PQT đã một lần bị Công an huyện N xử phạt hành chính xử phạt vi phạm hành chính số 171/QĐ-XPHC ngày 24/8/2016, nhưng không lo tu sửa bản thân mà chỉ vì nghe lời bị cáo C mà đã có hành vi xâm hại đến sức khỏe của anh Vũ nên cũng cần xử phạt bị cáo một phần hình phạt tương ứng với hành vi của bị cáo.
Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; cha bị cáo Truyền là người có công Cách mạng được Hội cựu chiến binh Việt Nam tặng kỷ niệm chương, ông Nội bị cáo tham gia Cách mạng trước năm 1945 đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị cáo đã bồi thường cho anh LTV 150.000.000đ, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, không yêu cầu về phần dân sự nên miễn xét.
Khoản tiền 12.000.000đ các bị cáo Trọng, Truyền đang nộp cho cơ quan Công an đây là khoản tiền thừa các bị cáo có yêu cầu nhận lại, Hội đồng xét xử thấy đây là yêu cầu có căn cứ của các bị cáo nên trả lại cho các bị cáo, trong đó trả lại cho bị cáo Trọng 7.000.000đ, bị cáo truyền 5.000.000đ.
Việc bị cáo PQT xử dụng xe ô tô biển số 76A – 06.053 đi tham gia trong việc gây thương tích cho anh LTV, ông PNT không biết nên cơ quan Công an không xem xét trách nhiệm của ông Thanh là có căn cứ pháp luật, sau khi bị cáo Truyền thế chấp chiếc xe này cho ông Nguyễn Công Viễn và ông Thanh đã chuộc lại, tại phiên tòa ông Thanh không yêu cầu bị cáo Truyền phải hoàn trả lại cho ông số tiền mà ông đã chuộc xe nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trong vụ án này khi nghe anh LTV hứa sẽ trả lại chiếc điện thoại thì các bị cáo đồng ý và bỏ đi, không chiếm đoạt bất kỳ tài sản nào của anh LTV mặc dù trên xe có nhiều tài sản có giá trị của anh Vũ. Do đó, hành vi của các bị cáo không cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự hoặc tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị của Viện sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Các điểm d, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo TMC.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo PQT, VĐT
+ Điều 331; Điều 333; khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên bố: Các bị cáo TMC, PQT và VĐT phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.
3. Xử phạt: Bị cáo TMC, 03 năm 06 tháng (Ba năm sáu tháng) tù, thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
- Xử phạt: Bị cáo VĐT, 01 năm 08 (Một năm tám tháng) tù, thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
- Xử phạt: Bị cáo PQT, 01 năm 03 (Một năm ba tháng) tù thời gian tính từ ngày 09/7/2022.
- Phần dân sự: Không có yêu cầu.
4. Về xử lý vật chứng:
- Hoàn trả lại cho bị cáo VĐT 7.000.000đ.
- Hoàn trả lại cho bị cáo PQT 5.000.000đ.
Số tiền đã được Công an huyện N chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện N ngày 02/11/2022 tài khoản số 3949.0.1041648.00000
5. Về án phí: Các bị cáo TMC, PQT và VĐT mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với phần liên quan với mình, đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện N; - Cơ quan THAHS CA huyện N; - Nhà tạm giữ CA huyện N; - Cơ quan điều tra CA huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa PHN |