vanban.org

Bản án 09/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 14/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tống Thảo N 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/12/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L (C) 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2023/HS-ST
Ngày 14/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Tăng Hữu;

Bà Lê Hoàng Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 14/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 31/3/2023 đối với các bị cáo:

1. Tống Thảo N, sinh ngày 10/01/1984 tại Ninh Bình; nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tống Vũ B, sinh năm: 1954 và bà Võ Thị Thanh C, sinh năm: 1963, trú tại: thôn A, xã T, huyện Cam Lộ; có vợ đã ly hôn năm 2022 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 29/5/1999, bị Công an huyện Cam Lộ ra quyết định khởi tố bị can về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 23/8/1999, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can.

- Ngày 07/6/2000, bị Tòa án nhân nhân huyện Cam Lộ xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tại bản án số 02/2000/HSST về tội “Cố ý gây thương tích”.

- Ngày 09/4/2013, bị Công an huyện Gio Linh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

- Ngày 16/12/2022, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

- Ngày 16/12/2022, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ. Có mặt.

2. Nguyễn Thanh L, tên gọi khác: C, sinh ngày 25/7/1989 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1964, trú tại: thôn P, xã T, huyện Cam Lộ, con ông: không xác định. Tiền án, tiền sự: không có, vợ con chưa có.

Nhân thân:

- Ngày 25/11/2013, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

- Ngày 25/9/2017, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc.

- Ngày 12/12/2022, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2022 đến ngày 11/01/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, tạm giam từ ngày 12/01/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1981, trú tại: Khu phố H, phường T, Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Tống Vũ B, sinh năm: 1954, trú tại: thôn A, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

+ Anh Ngô Văn P, sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 05/12/2022, Tống Thảo N điện thoại rủ Nguyễn Thanh L đi mua ma túy về sử dụng, L đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74G1- 028.53 đi đến nhà L ở thôn P, xã T, huyện Cam Lộ để chở L đi mua ma túy. Tại đây, N đưa cho L 300.000(ba trăm nghìn) đồng, rồi điều khiển xe chở L đi theo Quốc lộ 1A về thành phố Đông Hà. L chỉ đường cho N đi vào khu vực “xóm Choi”, rồi dừng lại trước đường hẻm thuộc Phường M, thành phố Đông Hà. N ngồi trên xe chờ, còn L đi vào trong hẻm gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 300.000đồng ma túy. Người đàn ông đưa cho L một gói nilon trong suốt, bên trong có chứa 09 (chín) viên ma túy hồng phiến. L giao tiền và cầm ma túy đi ra gặp N rồi cả hai đi về nhà L để sử dụng ma túy. Khi đến gần cổng nhà L, N được L đưa cho gói ma túy nên bỏ vào túi áo khoác đang mặc. Thấy trong nhà có mẹ, L nói đi về nhà N để sử dụng ma túy. Khi cả hai đang ở đoạn đường liên thôn thuộc Đội C, thôn A, xã T, huyện Cam Lộ thì bị lực lượng Công an huyện Cam Lộ tiến hành kiểm tra. N tự lấy trong túi áo khoác đang mặc trên người ra một gói nilon trong suốt bên trong có 09 viên nén màu hồng, dạng hình trụ tròn, bề mặt mỗi viên có chữ WY. Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L thừa nhận là ma túy hồng phiến mua từ thành phố Đông Hà về để sử dụng chung. Công an huyện Cam Lộ tiến hành lập biên bản bắt quả tang và niêm phong thu giữ số ma túy trên.

Khám xét tại nhà của Tống Thảo N, thu giữ 02 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa thực vật khô màu xám, N thừa nhận đó là ma túy Cần sa (Bồ đà), N mua về để sử dụng từ những ngày trước còn lại.

Quá trình bắt quả tang và điều tra đã thu giữ:

- 09 viên nén màu hồng, dạng hình trụ tròn, trên bề mặt mỗi viên có in chữ “WY”;

- 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kéo, kích thước 03x03cm;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng đồng, số IMEI: 356209067799202, bên trong gắn một thẻ sim Vinaphone, trên thẻ sim có dãy số 898402000, 11135774147.;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 pro, màu bạc, số IMEI 1: 354802093519578, số IMEI 2: 354803093519576, bên trong có một thẻ sim Mobifone, trên thẻ sim có dãy số 8401201133209539.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53, xe đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L.

- 02 túi nilon trong suốt, có kích thước như nhau 8,5x05cm, loại miệng túi có khóa kéo, bên trong chưa thực vật khô màu xám.

Tại bản kết luận giám định số 1311/KL-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: 09 viên nén màu hồng, hình trụ tròn được gửi đến giám định có khối lượng 0,8333gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; Thực vật khô màu xám gửi đến giám định có khối lượng 0,6382 gam là ma túy loại Cần sa. Cần sa là chất ma túy nằm trong danh mục ID, STT 1 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSCL ngày 13/3/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L (C) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo N áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt:

- Bị cáo Tống Thảo N từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

- Bị cáo Nguyễn Thanh L (C) từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy: Ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu mã số PS3 2117363; 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kéo, kích thước; 03x03cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; 01 thẻ sim Vinaphone, trên thẻ sim có dãy số 898402000, 11135774147; 01 thẻ sim Mobifone, trên thẻ sim có dãy số 8401201133209539.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng đồng, số IMEI: 356209067799202; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 pro, màu bạc, số IMEI 1: 354802093519578, số IMEI 2: 354803093519576; giá trị ½ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53 xe đã qua sử dụng ( kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L)

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53.

Các vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L hiện đang lưu giữa tại hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L trình bày lời nói sau cùng: các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Ngày 05/12/2022 Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L đã bị bắt quả tang về hành vi mua ma túy loại Methamphetamine của một người đàn ông không rõ lai lịch để về sử dụng với khối lượng 0,8333gam. Hành vi trên của Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán……thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 01 đến 05 năm:…

c)….Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.

Các bị cáo đều cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên các bị cáo là đồng phạm trong vụ án nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tống Thảo N là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị phương tiện và tiền bạc cho việc đi mua ma túy về để sử dụng chung. L là người trực tiếp thực hiện việc mua ma túy nên xác định vai trò của các bị cáo ngang nhau, các bị cáo có nhân thân xấu. Nên khi xem xét áp dụng hình phạt, bị cáo N và bị cáo L có mức hình phạt ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L đã thành khẩn khai báo, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bố bị cáo N là ông Tống Vũ B là người hoạt động kháng chiến bị nhiểm chất độc hóa học hiện đang bị bệnh hiểm nghèo (ung thư phổi), mẹ bị cáo là thanh niên xung phong cũng đang bị bệnh hiểm nghèo (suy thận mãn tính giai đoạn cuối) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nhưng cũng cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Thời hạn tạm giam còn dưới 45 ngày nên cần ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Đối với người đàn ông không quen biết là người bị cáo L khai đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi tàng trữ 0,6382 gam ma túy loại cần sa nhằm mục đích sử dụng của Tống Thảo N chưa đủ yếu tố cấu thành tội nên Công an huyện Cam Lộ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Ma túy hoàn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong có ký hiệu mã số PS3 2117363, bên ngoài có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị và có chữ ký của những người tham gia niêm phong là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kéo, kích thước; 03x03cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; 01 thẻ sim Vinaphone, trên thẻ sim có dãy số 898402000, 11135774147; 01 thẻ sim Mobifone, trên thẻ sim có dãy số 8401201133209539, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng đồng, số IMEI: 356209067799202; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 pro, màu bạc, số IMEI 1: 354802093519578, số IMEI 2: 354803093519576 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53, xe đã qua sử dụng. Xe là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để phạm tội, chiếc xe được đăng ký tháng 11/2020 mang tên Nguyễn Thị L (trước đây là vợ bị cáo N), bị cáo và chị L ly hôn năm 2022 về tài sản không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chiếc xe này được xác định được hình thành trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là tài sản chung của vợ chồng. Bị cáo N dùng làm phương tiện phạm tội nhưng chị L không biết nên cần tịch thu 1/2 trị giá xe mô tô nộp Ngân sách Nhà nước và trả lại cho chị L ½ trị giá xe mô tô (kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L). Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vật chứng hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L hiện đang lưu giữa tại hồ sơ vụ án.

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đối với bị cáo Tống Thảo N áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tống Thảo N 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/12/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L (C) 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/12/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: Ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong trong túi niêm phong có ký hiệu mã số PS3 2117363; 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kéo, kích thước; 03x03cm, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; 01 thẻ sim Vinaphone, trên thẻ sim có dãy số 898402000, 11135774147; 01 thẻ sim Mobifone, trên thẻ sim có dãy số 8401201133209539.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, màu vàng đồng, số IMEI: 356209067799202; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 pro, màu bạc, số IMEI 1: 354802093519578, số IMEI 2: 354803093519576; giá trị ½ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53 xe đã qua sử dụng (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L)

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị L ½ giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen vàng, số khung: RLCS5C640CY719510, số máy: 5C64719512, biển kiểm soát 74G1- 028.53.

Các vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 013218 mang tên Nguyễn Thị L hiện đang lưu giữa tại hồ sơ vụ án.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Tống Thảo N và Nguyễn Thanh L (C) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ