- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Ngọc H. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Viên chức
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2023/HC-PT Ngày: 12 - 12 - 2023 V/v khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Kim Khánh, ông Nguyễn Ngọc Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 05/2023/TLPT-HC ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc”. Do bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2023/QĐ-PT ngày 27/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/QĐ-PT ngày 23/11/2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A đường G, tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang D, sinh năm 1965. Địa chỉ: Bon U, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Hoàng A, thuộc Công ty L. Địa chỉ: Số A đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số B đường Đ, tổ dân phố B, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn K, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện E (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
+ Ông Huỳnh Văn Đ, chức vụ: Trưởng phòng Tư pháp UBND huyện E (Có đơn xin vắng mặt).
+ Bà Vũ Thị Hồng H1, chức vụ: Phó Trưởng phòng Nội vụ, UBND huyện E (Có mặt).
+ Luật sư Đinh Xuân T- Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ. Địa chỉ: B L, Tp B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
3. Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Lê Ngọc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện ông Lê Ngọc H trình bày:
Tháng 8/2017, ông Lê Ngọc H được UBND huyện E bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX) huyện E.
Ngày 30/3/2020, UBND huyện E ban hành Quyết định số 840/QĐ- UBND về việc cho tinh giảm 01 biên chế (Giáo viên) của Trung tâm G1. Trung tâm đã đề xuất tinh giảm bà Nguyễn Thị Diệu H2, nhưng Ủy ban không đồng ý với lý do bà H2 đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do bà Lê Thị C là giáo viên thuộc diện hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế, chưa được tuyển dụng, không phải là viên chức và trong quá trình công tác, bà C không hoàn thành nhiệm vụ, không chấp hành sự phân công của Ban Giám đốc, vi phạm tổ chức dạy và học trong thời gian phòng chống dịch bệnh Covid- 19, giáo án điện tử soạn sai, không thông qua Ban Giám đốc, tự ý đưa giáo án lên Cổng thông tin điện tử của Sở Giáo dục, với tư cách là Giám đốc của Trung tâm ông H đã yêu cầu bà C viết kiểm điểm, nhưng bà C không viết mà lấy lý do bận dạy học. Do vậy, Ban Giám đốc họp toàn thể cơ quan, tạm đình chỉ công tác của bà C trong vòng 15 ngày để bà C viết kiểm điểm. Trong thời gian này, UBND huyện, Phòng Tài chính luôn đốc thúc và yêu cầu Trung tâm phải giảm 01 biên chế, cho nên Trung tâm tiếp tục xin giảm biên chế đối với bà C và được UBND huyện đồng ý bằng văn bản.
Sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBND huyện, ngày 08/5/2020 ông H ban hành Quyết định số 66/QĐ-TTGDNN-GDTX về việc cho bà C thôi việc và giải quyết chế độ theo quy định. Bà C chấp hành quyết định. Tuy nhiên khoảng cuối tháng 5/2020, bà C tố cáo ông H nhiều nơi. Vụ việc được UBND huyện E giải quyết sau đó kết luận chuyển Công an huyện E, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ xử lý. Không đồng ý với Kết luận này, ông H khiếu nại nhưng UBND huyện chưa giải quyết và vụ việc đang được Công an huyện E; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ; Tòa án huyện thụ lý giải quyết thì đến ngày 07/6/2021, Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1620/QĐ-UBND để điều động, bổ nhiệm ông H sang giữ chức vụ Phó Trưởng phòng D (giáng chức) mà không có lý do.
Sau khi nhận quyết định, ông H vẫn chấp hành nghiêm chỉnh sự điều động, phân công công tác, tham gia làm việc và công tác với Phòng D tại xã E. Nhưng xét thấy UBND huyện chưa giải quyết khiếu nại của ông H, hơn nữa công việc không phù hợp với chuyên môn nên ngày 30/6/2021, ông H có đơn xin nghỉ việc. Mặc dù ông H có đơn xin nghỉ việc nhưng ngày 07/4/2022, Chủ tịch UBND huyện E lại ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND để kỷ luật ông H bằng hình thức buộc thôi việc với lý do cho rằng ông H tự ý nghỉ việc, không chấp hành quyết định phân công điều động của Chủ tịch UBND huyện.
Nhận thấy Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND là không có căn cứ, trái với quy định của pháp luật tại Điều 13 Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ và Điều 7 Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND tỉnh Đ, trái với các quy định của Đảng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H. Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện E, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H đã rút một phần nội dung khởi kiện, không yêu cầu người bị kiện phải khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông theo quy định của pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là ông Phạm Văn K trình bày:
Ông Lê Ngọc H trong giai đoạn là Giám đốc Trung tâm G2 để xảy ra nhiều sai phạm theo kết luận của các cơ quan có thẩm quyền, làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động hiệu quả của đơn vị, nhất là tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ viên chức, người lao động không được khắc phục. Trước tình hình đó, UBND huyện đã báo cáo, xin chủ trương của Ban Thường vụ Huyện uỷ để thực hiện quy trình điều động, bổ nhiệm ông Lê Ngọc H đến Phòng D và giữ chức vụ Phó Trưởng phòng. Sau khi có chủ trương thống nhất của Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND huyện ban hành Quyết định số 1620/QĐ-UBND ngày 07/6/2021 về điều động, bổ nhiệm công chức đối với ông Lê Ngọc H.
Sau khi nhận Quyết định, ngày 30/6/2021, ông Lê Ngọc H có đơn xin nghỉ việc, nhưng do đang trong quá trình xem xét xử lý trách nhiệm nên UBND huyện chưa đồng ý cho ông H nghỉ việc. Với trách nhiệm là công chức, đảng viên, sau khi nhận văn bản trả lời của UBND huyện, ông Lê Ngọc H phải chấp hành việc phân công, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chờ các cơ quan xem xét, xử lý theo quy định. Tuy nhiên, ông Lê Ngọc H lại không chấp hành mà tự ý nghỉ, không đến cơ quan làm việc, vi phạm ý thức tổ chức kỷ luật, vi phạm những điều công chức không được làm. Trong bản kiểm điểm ông H đã thừa nhận và cho rằng do điều động không đúng nên có quyền đơn phương nghỉ việc. Khi UBND huyện tổ chức kiểm điểm để giúp ông Lê Ngọc H nhận ra các khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa, thì ông Lê Ngọc H cố tình không chấp hành, không phối hợp kiểm điểm, gây khó khăn cho các cơ quan trong quá trình thực hiện việc xử lý. Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất, mức độ hành vi vi phạm, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 xử lý kỷ luật đối với ông Lê Ngọc H bằng hình thức buộc thôi việc.
Xét thấy Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 là có căn cứ pháp lý, đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền và còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật nên người bị kiện không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc H.
Những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đồng ý với phần trình bày của ông Phạm Văn K.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, khoản 2 Điều 31, các điều 125, 173, 193, 204 và Điều 206 của Luật tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 18, Điều 33, khoản 2 và khoản 3 Điều 59; điểm e khoản 1 Điều 79, Điều 80 của Luật cán bộ công chức; các điều 5, 6, 7, 13, khoản 1 Điều 24, các điều từ Điều 25 đến Điều 30 của Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ; Điều 7 Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ về việc ban hành quy định phân cấp quản lý cán bộ công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; khoản 6 Điều 1 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc H về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch UBND huyện E, tỉnh Đắk Lắk về việc xử lý kỷ luật công chức.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Lê Ngọc H về việc buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Ngọc H theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 12/9/2023, ông Lê Ngọc H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người khởi kiện và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tranh luận: Việc Chủ tịch UBND huyện E ban hành quyết định xử lý kỷ luật công chức đã vi phạm nguyên tắc kỷ luật đảng viên vì ông H đang là đối tượng kiểm tra Đảng viên có dấu hiệu vi phạm, chưa xử lý về mặt Đảng. Ông H đã có đơn xin nghỉ việc từ ngày 30/6/2021 gửi phòng D và UBND huyện nhưng không nhận được văn bản trả lời của cơ quan nào, mãi đến ngày 17/11/2021 ông mới được Phòng D giao cho bản phô tô Công văn số 1262/UBND-NV ngày 09/7/2021 của UBND huyện E về việc trả lời đơn xin nghỉ việc của ông. Tại Biên bản họp kiểm điểm ngày 09/3/2022 không đúng thành phần, người chủ trì phải là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện, ông Nguyễn Hữu H3 là Trưởng phòng Nội vụ chủ trì nhưng không có giấy ủy quyền, không ký biên bản họp. Khi họp Hội đồng kỷ luật không thông báo cho ông H đủ 7 ngày theo quy định, thành phần Hội đồng kỷ luật không đúng (ông Vũ Ngọc Đ1 - Chuyên viên Phòng D là Ủy viên, còn đại diện Chi bộ và Công đoàn thì ông H chưa chuyển sinh hoạt đảng, chưa tham gia đoàn thể này). Chủ tịch UBND huyện căn cứ vào khoản 2 Điều 13 Nghị định 112 để xử lý cho ông H nghỉ việc là quá nghiêm khắc vì trừ khi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải buộc thôi việc, đằng này là do ông H tự ý nghỉ việc.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính. Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Ngọc H. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người khởi kiện được nộp trong thời hạn luật định, người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về thẩm quyền ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND 07/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện E về việc xử lý kỷ luật công chức đối với ông Lê Ngọc H thấy rằng:
Trước thời điểm bị kỷ luật, ông Lê Ngọc H giữ chức vụ Phó Trưởng phòng D huyện Ea H’leo thuộc sự quản lý của Chủ tịch UBND huyện E. Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; khoản 1 Điều 24 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; khoản 1 Điều 7 Quy định Phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ban hành kèm theo Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND tỉnh Đ, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của UBND tỉnh Đ thì công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển biệt phái, từ chức, miễn nhiệm, nhận xét, đánh giá, phân loại, kỷ luật, hưu trí thôi việc đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý như ông Lê Ngọc H thuộc trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch UBND huyện.
Do đó, Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 về việc xử lý kỷ luật công chức đối với ông Lê Ngọc H là đúng thẩm quyền.
[2.2] Về thời hạn, thời hiệu:
Theo quy định tại Điều 80 Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung tại khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 thì thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật được quy định như sau:
“1. Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm.
Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thời hiệu xử lý kỷ luật được quy định như sau:
a) 02 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách;
b) 05 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này.
…
3. Thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày.”
Ông Lê Ngọc Hậu b xử lý kỷ luật vì lý do tự ý nghỉ việc, không chấp hành quyết định phân công, điều động của Chủ tịch UBND huyện. Thời điểm phát hiện ông H có hành vi vi phạm kỷ luật là ngày UBND huyện nhận được Báo cáo số 03/BC-PDT ngày 12/01/2022 của Phòng D về việc ông H không đến làm việc. Như vậy, Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 được ban hành trong thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật.
[2.3] Về trình tự thủ tục ban hành:
Ngày 07/6/2021, Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1620/QĐ-UBND về việc điều động, bổ nhiệm công chức đối với ông Lê Ngọc H, Giám đốc Trung tâm G thường xuyên đến công tác, giữ chức vụ Phó Trưởng phòng D kể từ ngày 10/6/2021. Tuy nhiên, tại các biên bản họp cơ quan của Phòng D đều ghi nhận việc ông H vắng mặt không có lý do. Sau đó Phòng D đã có các báo cáo gửi UBND huyện E về việc ông Lê Ngọc H không đi làm việc.
Đến ngày 19/01/2022, UBND huyện E có Công văn số: 120/UBND-NV về việc tổ chức họp kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với ông Lê Ngọc H, yêu cầu ông H làm bản kiểm điểm cá nhân về các vi phạm trong quá trình công tác, đồng thời giao Trưởng phòng Nội vụ tổ chức họp kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với ông Lê Ngọc H theo quy định pháp luật.
Qua công tác kiểm tra việc thực hiện công vụ, văn hóa công vụ, kỷ luật, kỷ cương hành chính tại Phòng D vào ngày 10/02/2022 ghi nhận nội dung từ khi được điều động đến nay, ông Lê Ngọc H không đến cơ quan làm việc, mặc dù đã được động viên và có nhiều văn bản đề nghị ông H chấp hành nội quy, quy chế của đơn vị nhưng ông H vẫn không chấp hành.
Theo Thông báo triệu tập số: 33/TB-UBND ngày 11/02/2022, Thông báo triệu tập lần 2 số 41/TB-UBND ngày 18/02/2022 và Thông báo triệu tập lần 3 số 55/TB-UBND ngày 04/3/2022 của UBND huyện về việc tổ chức kiểm điểm đối với ông Lê Ngọc H, Phó Trưởng phòng D theo Kết luận thanh tra số 21/KL-SLĐTBXH của Sở L và Công văn số 454/CV-CQĐT của Công an huyện, tuy nhiên ông H đều không tham gia (các Thông báo này đều được gửi cho ông H theo đường bưu điện, lần 1 bà D1 là vợ ông H nhận, còn lần 2, lần 3 ông H từ chối nhận).
Ngày 09/3/2022, UBND huyện tiến hành họp kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với ông Lê Ngọc H tại Trung tâm GDNN-GDTX huyện, với thành phần tham dự gồm:
- Về phía đoàn làm việc:
+ Ông Nguyễn Hữu H3, Trưởng phòng Nội vụ, Thừa ủy quyền, Chủ trì
+ Bà Vũ Thị Hồng H1, Phó trưởng phòng Nội vụ, Thư ký
+ Ông Nguyễn Lê Trung Th, Chuyên viên phòng Nội vụ
- Về phía Trung tâm GDNN-GDTX huyện:
+ Ông Phan Xuân S, Phó Giám đốc
+ Ông Lê Tố H4, Phó Giám đốc, Phó Bí thư Chi bộ
+ Ông Võ Tý H5, Phó Giám đốc
Và có mặt 23/26 viên chức, người lao động của Trung tâm.
- Đại diện Công an huyện: Ông Đào Quốc Đ2, Đội trưởng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy
- Đại diện Thanh tra huyện: Ông Phan Thanh T1, Phó Chánh Thanh tra
- Phòng D: Ông Vũ Ngọc Đ1, Chuyên viên (tại thời điểm này Phòng D chưa có Trưởng phòng, có 02 Phó Trưởng phòng là ông Lê Ngọc H và ông Ksơr Y N, ông Ksơr Y N được giao phụ trách Phòng D. Do ông Ksơr Y N đang đi học tập trung tại Đà Nẵng nên Vũ Ngọc Đ1 đại diện Phòng D tham gia cuộc họp).
- Người vi phạm là ông Lê Ngọc H đã gửi bản kiểm điểm và vắng mặt không có lý do.
Từ kết quả tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với ông Lê Ngọc H ngày 09/3/2022, Phòng Nội vụ đã có Báo cáo số 66/BC-PNV ngày 11/3/2022 gửi Chủ tịch UBND huyện để xem xét kỷ luật.
Căn cứ quy định tại Điều 26 Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 thì việc tổ chức họp kiểm điểm đối với ông Lê Ngọc H đã thực hiện đúng trách nhiệm, trình tự tiến hành.
Đến ngày 16/3/2022, UBND huyện E ban hành Quyết định số 1394/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật công chức đối với ông Lê Ngọc H gồm có các thành viên:
- Ông Phạm Văn K, Phó Chủ tịch UBND huyện, Chủ tịch Hội đồng
- Ông Vũ Ngọc Đ1, Chuyên viên Phòng D, Ủy viên (do ông Ksơr Y N đi học tập trung)
- Ông Vũ Văn H6, Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy Cơ quan chính quyền huyện, Ủy viên
- Ông Lê Đình P, Chủ tịch Công đoàn cơ sở cơ quan chính quyền huyện, Ủy viên
- Ông Nguyễn Hữu H3, Trưởng phòng Nội vụ, Ủy viên kiêm Thư ký
Sau ba lần Hội đồng kỷ luật số 1394 ban hành Giấy triệu tập số 02/GTT-HĐKL ngày 16/3/2022, 03/GTT-HĐKL ngày 30/3/2022 và 05/GTT-HĐKL ngày 01/4/2022 đã được gửi theo đường bưu điện và ông Vũ Ngọc Đ1 - chuyên viên Phòng D đến giao trực tiếp cho ông Lê Ngọc H nhưng ông H không nhận (BL 106, 108, 110, 112, 122, 130, 133). Ngày 05/4/2022, Hội đồng kỷ luật tiến hành họp xử lý kỷ luật vắng mặt ông Lê Ngọc H.
Căn cứ Báo cáo số 07/BC-HĐKL ngày 06/4/2022 của Hội đồng xử lý kỷ luật số 1394 thì ngày 07/4/2022, Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND về việc xử lý kỷ luật công chức.
Như vậy, trình tự thủ tục ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 đã thực hiện đúng quy định tại các điều từ Điều 25 đến Điều 30 Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020.
[2.4] Về áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với ông Lê Ngọc H:
Ông Lê Ngọc H kháng cáo cho rằng, do Quyết định số 1620/QĐ-UBND ngày 07/6/2021 của Chủ tịch UBND huyện E về việc điều động, bổ nhiệm công chức đối với ông đến công tác, giữ chức vụ Phó Trưởng phòng D kể từ ngày 10/6/2021 ban hành trái quy định pháp luật mới làm phát sinh Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 buộc ông thôi việc nên ông đang làm đơn tố cáo Chủ tịch UBND huyện. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng giải quyết vụ án để chờ kết luận tố cáo trên.
Xét, trong thời gian ông Lê Ngọc H giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX huyện G2 đã có một số sai phạm đã được kết luận tại Kết luận nội dung tố cáo số: 606/KL-UBND ngày 24/8/2020 của UBND huyện E, Kết luận thanh tra số 21/KL-SĐTBXH ngày 29/6/2021 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ về tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Trung tâm.
Ngày 07/6/2021, Chủ tịch UBND huyện E ban hành Quyết định số 1620/QĐ-UBND về việc điều động, bổ nhiệm công chức đối với Lê Ngọc H đến công tác, giữ chức vụ Phó Trưởng phòng D kể từ ngày 10/6/2021. Ông H đã nhận được Quyết định trên. Đến ngày 30/6/2021, ông H có đơn xin nghỉ việc. Tại Công văn số 1262/UBND-NV ngày 09/7/2021 của UBND huyện E về việc trả lời đơn xin nghỉ việc của ông Lê Ngọc H xác định: các vi phạm của ông H đang được các cơ quan xem xét xử lý, một số nội dung vi phạm đang được Công an huyện điều tra, xác minh làm rõ, Kết luận thanh tra số 21/KL-SĐTBXH ngày 29/6/2021 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ cũng kiến nghị xử lý trách nhiệm, việc ông H xin nghỉ việc thời điểm này là chưa xem xét, giải quyết được theo điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định số 46/2010/NĐ-CP, khi nào các vi phạm thuộc trách nhiệm cá nhân của ông H được xử lý xong thì UBND huyện mới xem xét xử lý đơn xin nghỉ việc của ông H; đồng thời UBND huyện yêu cầu ông H chấp hành đúng nội quy, quy chế của cơ quan, chấp hành việc phân công của tổ chức.
Như vậy, việc ông H có đơn xin nghỉ việc chưa được UBND huyện E giải quyết. Ông H cho rằng trước khi có quyết định điều động, ông đã có ý kiến nếu điều động thì sau đó ông sẽ xin nghỉ việc, UBND huyện đã biết trước điều này nhưng vẫn có quyết định điều động ông nên mặc nhiên hiểu UBND huyện chấp nhận cho ông nghỉ việc là không có căn cứ.
Theo các Báo cáo số 30/BC-PDT ngày 29/7/2021, số 45/BC-PDT ngày 30/9/2021 và số 03/BC-PDT ngày 12/01/2022 của Phòng D thì từ khi nhận Quyết định điều động, bổ nhiệm đến nay ông Lê Ngọc H không đi làm việc. Mặc dù Phòng D đã có nhiều văn bản yêu cầu ông H thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ được phân công, chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan Phòng D nhưng ông H vẫn không chấp hành. Tại Bản kiểm điểm của ông Lê Ngọc H gửi UBND huyện E (BL 430-434) ông H cho rằng vì UBND huyện đã xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, nhân phẩm, danh dự của ông nên ông có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật lao động.
Xét thấy, hành vi không chấp hành sự điều động của UBND huyện, tự ý bỏ việc của ông Lê Ngọc H là vi phạm khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 18 Luật cán bộ, công chức năm 2008 và phải bị xử lý kỷ luật theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020. Hội đồng xử lý kỷ luật đánh giá: ông H với vai trò là người lãnh đạo, quản lý nhưng thiếu gương mẫu, khi có khuyết điểm, vi phạm được cơ quan có thẩm quyền chỉ ra thì thoái thác trách nhiệm, không cầu thị tiếp thu sửa chữa, tự ý nghỉ việc, không chấp hành quyết định điều động, phân công của Chủ tịch UBND huyện, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan. Khi UBND huyện thực hiện quy trình xử lý thì có thái độ không hợp tác. Vi phạm của ông H có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, danh dự của cá nhân ông Lê Ngọc H, ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc UBND huyện, tạo ra dư luận xấu trong xã hội. Căn cứ tính chất, mức độ của các hành vi vi phạm, Hội đồng kỷ luật đã bỏ phiếu đề nghị áp dụng hình thức kỷ luật, kết quả 5/5 phiếu đề nghị áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với ông H.
Trên cơ sở đó, ngày 07/4/2022, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 1851/QĐ-UBND về việc xử lý kỷ luật công chức đối với ông Lê Ngọc H bằng hình thức “Buộc thôi việc” vì lý do tự ý nghỉ việc, không chấp hành quyết định phân công, điều động của Chủ tịch UBND huyện, vi phạm quy định tại Điều 13 (khoản 2) Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020.
Đối chiếu quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 112:
“Điều 13. Áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức:
…
2. Có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 8 Nghị định này;”
Và “Điều 8. Áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách đối với cán bộ, công chức
Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả ít nghiêm trọng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Vi phạm quy định về đạo đức, văn hóa giao tiếp của cán bộ, công chức; quy định của pháp luật về thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức; kỷ luật lao động; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
…
3. Không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cấp có thẩm quyền; không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có lý do chính đáng; gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, việc áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với các vi phạm của ông Lê Ngọc H là phù hợp, đúng pháp luật. Ông H kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm bác đơn khởi kiện là đánh giá chứng cứ không khách quan, toàn diện quá trình ông là Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX, không xem xét đến tính hợp pháp của Quyết định 1620/QĐ-UBND ngày 07/6/2021 về điều động, bổ nhiệm công chức, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông là không có cơ sở xem xét. Bởi lẽ, Quyết định điều động công chức là quyết định nội bộ, công chức không có quyền khiếu nại, khiếu kiện mà phải chấp hành. Hơn nữa, ông Hậu bị kỷ luật vì các vi phạm từ sau khi được điều động đến Phòng D, chứ không phải trong thời gian công tác tại Trung tâm G2.
Tại phiên tòa, người khởi kiện còn đưa ra các quan điểm tranh luận: việc Chủ tịch U quyết định xử lý kỷ luật công chức đã vi phạm nguyên tắc kỷ luật đảng viên vì ông đang là đối tượng kiểm tra Đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không có văn bản nào quy định Đảng viên đang bị xem xét kiểm tra về đảng mà có vi phạm kỷ luật thì không được xem xét xử lý kỷ luật. Về vấn đề người khởi kiện cho rằng đã có đơn xin nghỉ việc từ ngày 30/6/2021 gửi phòng D và UBND huyện nhưng không nhận được văn bản trả lời của cơ quan nào, như vậy mặc nhiên các cơ quan trên đã đồng ý với đơn xin nghỉ việc của ông, mãi đến tháng 11/2021 ông mới được Phòng D giao cho bản phô tô Công văn số 1262/UBND-NV ngày 09/7/2021 của UBND huyện E về việc trả lời đơn xin nghỉ việc của ông. Xét thấy, tại thời điểm ông H làm đơn xin nghỉ việc thì ông đang bị xem xét xử lý kỷ luật. Theo quy định tại khoản 17 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 quy định công chức đang trong thời hạn xử lý kỷ luật thì không được thôi việc. Tại điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định 46/2010/NĐ-CP, một trong những lý do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền không giải quyết thôi việc cho công chức là đang trong thời gian xem xét kỷ luật. Đối với các nội dung người khởi kiện cho rằng tại Biên bản họp kiểm điểm ngày 09/3/2022 không đúng thành phần, ông Nguyễn Hữu H3 là chủ trì nhưng không ký biên bản; khi họp Hội đồng kỷ luật không thông báo cho ông đủ 07 ngày theo quy định, thành phần Hội đồng kỷ luật cũng không đúng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại cuộc họp kiểm điểm ngày 09/3/2022 do ông Nguyễn Hữu H3 chủ trì (ông H3 được sự ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện) nhưng biên bản cuộc họp không có chữ ký của ông H3. Việc ông H3 – Chủ trì cuộc họp nhưng chưa ký biên bản là thiếu sót trong quá trình lập biên bản, người bị kỷ luật có ý kiến về vấn đề này là có căn cứ. Tuy nhiên, cuộc họp có sự tham gia đầy đủ của các đơn vị như: Phòng Nội vụ, Trung tâm GDNN-GDTX, Công an huyện, Phòng Thanh tra, Phòng D và cũng có sự tham gia của 23 viên chức, người lao động của Trung tâm. Các đơn vị tham gia cuộc họp đã có đầy đủ chữ ký trong biên bản, thể hiện cuộc họp diễn ra công khai, minh bạch, dân chủ. Ngoài ra, ông H còn cho rằng ngày 05/4/2022 họp Hội đồng kỷ luật nhưng ngày 01/4/2022 mới gửi Giấy triệu tập lần 3 cho ông H là không đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị định 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020. Về vấn đề này Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 29 Nghị định 112/2020/NĐ-CP thì: “Chậm nhất là 07 ngày làm việc trước ngày tổ chức cuộc họp của Hội đồng kỷ luật, giấy triệu tập họp phải được gửi tới công chức có hành vi vi phạm. Công chức có hành vi vi phạm vắng mặt phải có lý do chính đáng. Trường hợp công chức có hành vi vi phạm vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập thì sau khi gửi giấy triệu tập lần thứ 3, Hội đồng kỷ luật tiến hành họp, kể cả trong trường hợp công chức đó vẫn vắng mặt”. Trong trường hợp này, ông H mặc dù đã được Hội đồng kỷ luật triệu tập 03 lần nhưng cả 03 lần ông H đều không tham gia. Trong 03 lần triệu tập thì 02 lần đầu đều gửi trước thời hạn 07 ngày cho ông H nhưng ông H đều không đến. Do ông H vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng kỷ luật có thể mở cuộc họp sau 02 lần mà không cần đến lần thứ 03.
Như vậy, các thiếu sót trong quá trình xử lý kỷ luật đối với ông H thì chỉ có thiếu chữ ký của ông H3 trong Biên bản họp kiểm điểm ngày 09/3/2022 mà ông H đưa ra là có căn cứ. Tuy nhiên, đây là sai sót về mặt hình thức trên không làm thay đổi bản chất sự việc, bởi lẽ ông H đã có hành vi vi phạm theo Luật Cán bộ, công chức như đã nhận định, đánh giá mức độ vi phạm là phù hợp. Việc hủy Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện E về việc xử lý kỷ luật công chức để giao về cho UBND huyện E thực hiện lại là không cần thiết, gây mất thời gian của các cơ quan Nhà nước cũng như các đương sự. Tuy nhiên, UBND huyện E cũng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Từ các phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Ngọc H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính.
Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Lê Ngọc H. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 29/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 18 Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Khoản 15, khoản 16 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019; Các điều 5, 6, 7, 13, khoản 1 Điều 24, từ Điều 25 đến Điều 30 Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; Khoản 1 Điều 7 Quy định Phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ban hành kèm theo Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 07/8/2012 của UBND tỉnh Đ, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 16/4/2018 của UBND tỉnh Đ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc H về việc yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 1851/QĐ-UBND ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk về việc xử lý kỷ luật công chức.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Lê Ngọc H về việc buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Ngọc H theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Ông Lê Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm và 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011309 ngày 24/4/2023 và AA/2021/0011585 ngày 18/9/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea H’leo; - CCTHADS huyện E; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Văn Tú |