- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Tr - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 141/2021/HSST ngày 19-10-2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HSPT Ngày 27-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Tr Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 104/2021/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo Đỗ Văn Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 141/2021/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
*Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Văn Tr, sinh ngày 10/12/1992 tại Bình Định. Nơi cư trú: 751 LD, thôn 1, xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Phật giáo. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Thợ sửa xe ô tô. Con ông: Đỗ Văn H, sinh năm 1970 và con bà: Trương Thị Th, sinh năm 1970, bị cáo có vợ: Lê Thị Kim Đ, sinh năm 1990. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2020 đến ngày 17/5/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn Tr làm nghề sửa xe ô tô tại gara số 751 LD thuộc thôn 1, xã C, thành phố P. Tr khai khoảng tháng 7/2020 có một đối tượng nam giới (không biết tên, địa chỉ) mang xe ô tô đến gara của Tr để sửa, quá trình sửa xe Tr nhìn thấy trên xe có chở pháo nên hỏi mua thì được người này đồng ý bán cho Tr 30 hộp pháo với giá 21.000.000 đồng. Số pháo mua được Tr cất giấu vào trong kho với mục đích sẽ bán lại để thu lợi. Khoảng 16 giờ ngày 11/12/2020 Tr vào trang facebook có tên “Phụng Lê” của anh Lê Minh Ph thì thấy có số điện thoại 0366691889 hỏi mua pháo. Tr quyết định bán số pháo mình đang cất giấu để thu lợi, nên gọi vào số điện thoại 0366691889 thì gặp một đối tượng nam giới (chưa xác định được họ tên, địa chỉ). Qua nói chuyện đối tượng trên đồng ý mua 30 hộp pháo của Tr với giá tiền 24.000.000 đồng và hẹn Tr chở pháo đến trước số nhà 24 NTT, phường H, thành phố P để thực hiện việc mua bán. Sau khi thỏa thuận xong, Tr lấy số pháo mình đang cất giấu cho vào 02 thùng các-tông và 01 túi nilong dán kín lại, chất lên xe ô tô biển số 51LD-0212, rồi điều khiển xe này đến đường NTT để bán như đã hẹn. Đến 19 giờ 15 phút ngày 11/12/2020 khi Tr đang dừng xe tại số nhà 24 NTT để chờ bán pháo thì bị Công an phường H phát hiện, bắt giữ. Vật chứng thu được gồm: 30 hộp giấy màu xanh được dán kín. Qua giám định kết luận “30 hộp giấy kín, bên ngoài dán giấy màu in chữ A8426-49 SHOTS, bên trong mỗi hộp đều có 49 vật hình trụ có dây nối liên kết với nhau đựng trong 02 thùng giấy các tông gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt bay lên cao, gây tiếng nổ và phát ra ánh sáng màu). Khối lượng 52,3 kg”
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 141/2021/HSST ngày 19-10-2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Tr phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Tr 05 (năm) năm tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2020 đến 17/5/2021.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 01/11/2021 bị cáo Đỗ Văn Tr kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm một phần hình phạt cho bị cáo từ 9 – 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định vì muốn kiếm lời từ việc buôn bán pháo, bị cáo đã mua 30 hộp pháo với giá 21.000.000 đồng để bán lại, trong lúc đi giao pháo thì bị bắt quả tang, qua giám định 30 hộp giấy là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có khối lượng 52,3 kg. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố P xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên mức hình phạt 05 năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp chứng cứ mới thể hiện được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, thành phố P tặng Giấy khen, có nhiều đóng góp trong 40 năm xây dựng và phát triển xã C, bị cáo là một trong những cá nhân tiêu biểu, xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước, chung tay xây dựng địa phương ngày càng phát triển. Ngoài ra, bị cáo còn nộp đơn xác nhận của UBND xã C thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn khi không có đất đai canh tác, nuôi ba con còn nhỏ, vợ không có việc làm ổn định, bị cáo đã tự nguyện thi hành án nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là những tình tiết mới phát sinh thể hiện ý thức, trách nhiệm của bị cáo với cộng đồng quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xem xét, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QU T ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 141/2021/HSST ngày 19-10-2021 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Tr 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2020 đến 17/5/2021.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: bị cáo Đỗ Văn Tr không phải nộp tiền án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND thành phố P - Chi cục THADS thành phố P; - Công an thành phố P - Bị cáo; - Lưu VT, THS, HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Đỗ Văn Hiên |