- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thiềm Việt Đ"Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 142 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2022/HS-ST Ngày 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.
Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Lài.
2. Ông Từ Văn Hoàng.
3. Ông Trần Văn Việt.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thạch - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Thiềm Việt Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2006; nơi đăng ký thường trú: tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Thiềm Văn G và bà Danh Thị M; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: cháu Bùi Nguyễn Phương U, sinh ngày 06-3-2013.
- Đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1991. Địa chỉ: tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu U: ông Lê Văn Nam – Trợ
giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện hợp pháp của bị cáo Thiềm Việt Đ: Bà Danh Thị M, sinh năm 1971. Địa chỉ: Tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Người bào chữa cho bị cáo Thiềm Việt Đ: bà Hoàng Thị T – Trợ giúp viên
pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Cao B, sinh ngày 05/09/2007. Địa chỉ: tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện hợp pháp của Nguyễn Cao B: bà Nguyễn Thị H. Địa chỉ: Tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2021, Thiềm Việt Đ và Nguyễn Cao B cùng nhau xem phim sex (cảnh nam nữ quan hệ tình dục) trên mạng Internet nên Đ và B đã nảy sinh ham muốn quan hệ tình dục với cháu Bùi Nguyễn Phương U (cháu U là hàng xóm của Đ và B). Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4/2021 đến tháng 6/2021 tại nhà của Đ ở số 21 Ô 5, tổ 6, ấp Tân Hội, xã Phước Hội, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Đ và B đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Nguyễn Phương U (sinh ngày 06/3/2013). Cụ thể như sau:
Lần thứ 1: khoảng cuối tháng 4/2021 (không nhớ rõ ngày), cháu U và B sang nhà Đ để chơi trò trốn tìm. Sau đó, Đ dẫn cháu U và B vào phòng ngủ của mình, B đứng ngoài canh cửa còn Đ đưa cháu U vào phòng và đóng cửa lại. Đ nói cháu U nằm xuống nệm và cởi quần cháu U trước rồi cởi quần của Đ ra lấy bao cao su chuẩn bị từ trước đeo vào dương vật đã cương cứng, Đ thực hiện hành vi giao cấu với cháu U khoảng từ 05-10 phút thì Đ không xuất tinh được nên dừng lại rồi đứng dậy mặc quần đi ra ngoài canh cửa cho B. Sau đó, B đi vào phòng cởi quần của mình ra (B không đeo bao cao su vào dương vật) và thực hiện hành vi giao cấu với cháu U khoảng hai phút thì có hai cháu là em của cháu U đi vào gõ cửa nên B dừng lại và cùng cháu U đứng dậy mặc quần đi ra ngoài. Sau khi thực hiện hành vi giao cấu với cháu U thì Đ dặn cháu U không được nói cho ai biết.
Lần thứ 2: khoảng tháng 5/2021 (không nhớ rõ ngày), cháu U và B qua nhà Đ để chơi. Sau đó, Đ rủ cháu U và B vào phòng ngủ của mình, Đ đứng ngoài canh cửa còn B dẫn cháu U vào trong phòng đóng cửa lại. B nói cháu U nằm xuống nệm và cởi quần của cháu U ra, đồng thời B cởi quần của mình và thực hiện hành vi giao cấu với cháu U khoảng hai phút thì dừng lại. B mặc quần vào đi ra ngoài đứng canh cửa cho Đ. Sau đó, Đ đi vào cởi quần của mình ra, đeo bao cao su vào dương vật đã cương cứng và thực hiện hành vi giao cấu với cháu U khoảng 05-10 phút, Đ không xuất tinh được nên dừng lại, Đ và cháu U tự mặc quần rồi đi ra ngoài.
Lần thứ 3: khoảng tháng 6/2021 (không nhớ rõ ngày), Đ ở nhà một mình thì có cháu U qua chơi. Sau đó, Đ dẫn cháu U vào trong phòng ngủ của mình. Đ nói cháu U nằm xuống nệm và cởi quần của cháu U ra rồi Đ cởi quần của mình và đeo bao cao su vào dương vật đã cương cứng rồi thực hiện hành vi giao cấu với cháu U khoảng 05-10 phút. Lần này, Đ xuất tinh vào bao cao su rồi dừng lại. Đ và cháu U tự mặc quần rồi đi ra ngoài.
Ngày 25/6/2021, chị Nguyễn Thị N phát hiện con ruột của mình là cháu Bùi Nguyễn Phương U bị xâm hại tình dục nên đã đến cơ quan Công an để trình báo vụ việc.
Quá trình điều tra, Thiềm Việt Đ và Nguyễn Cao B đã khai nhận có hành vi giao cấu với cháu Bùi Nguyễn Phương U như đã nêu trên. Lời khai của Đ và B phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm và diễn biến của vụ án.
Tại Kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 222/2021/TDTE ngày 01/7/2021 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, kết luận:
Khám sinh dục: màng trinh dạng hình vành khăn, thành màng trinh mỏng, lỗ màng trinh nhỏ với bờ tự do mềm mại, “phản xạ màng trinh” còn. Không thấy vết rách màng trinh cũ và mới. Không có dấu sây sát da hay bầm tím vùng bẹn đùi hai bên. Màng trinh còn nguyên. Không có tinh trùng trong dịch âm đạo. Hiện tại nạn nhân không bị nhiễm HIV.
Về trách nhiệm dân sự: bà Nguyễn Thị N (là mẹ ruột của cháu U) yêu cầu gia đình bị can Thiềm Việt Đ, gia đình của Nguyễn Cao B bồi thường trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật khi Toà án xét xử vụ án.
Tại cáo trạng số: 103/CT-VKS-P2 ngày 25/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Thiềm Việt Đ về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c Khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Thiềm Việt Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo nội dung bản cáo trạng đã quy kết.
Đại diện hợp pháp của bị hại, bà Nguyễn Thị N có ý kiến: trong vụ án này, bị cáo chỉ mới hơn 14 tuổi nên không nhận thức được hành vi và hậu quả do mình gây ra nên bà xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bà cũng không yêu cầu bị cáo và gia đình bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho con bà.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa đã phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của các bị cáo, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ ngU quyết định truy tố bị cáo Thiềm Việt Đ về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 142; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo Thiềm Việt Đ từ 06 (sáu) năm đến 08 (tám) năm tù.
Trợ giúp viên pháp lý bà Hoàng Thị Thủy có ý kiến bào chữa cho bị cáo Thiềm Việt Đ như sau:
Bà nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản truy tố. Tuy nhiên, mức hình phạt từ 8 đến 10 năm tù là quá nghiêm khắc với hành vi của bị cáo vì bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chỉ mới hơn 14 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chính sách khoan hồng của pháp luật, áp dụng hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Bị cáo Thiềm Việt Đ đồng ý với lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý và không có ý kiến bổ sung.
Trợ giúp viên pháp lý phát biểu ý kiến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại như sau:
Về ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và không buộc bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự là hoàn toàn tự nguyện nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, từ đó cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo vừa đủ sự nghiêm minh vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý với ý kiến của trợ giúp viên pháp lý, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không bổ sung gì thêm.
Lói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo rất hối hận về hành vi của minh và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; trợ giúp viên pháp lý không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
Qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo Thiềm Việt Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng tháng 4/2021, Thiềm Việt Đ và Nguyễn Cao B (sinh ngày 05/9/2007) cùng nhau xem phim sex (cảnh nam nữ quan hệ tình dục) trên mạng Internet nên Đ và B đã nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu Bùi Nguyễn Phương U như trong phim. Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4/2021 đến tháng 6/2021, Đ và B đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Nguyễn Phương U khi cháu U mới được 07 năm 02 tháng tuổi. Cụ thể như sau:
Vào khoảng tháng 4 và tháng 5/2021, Thiềm Việt Đ và Nguyễn Cao B đã hai lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Bùi Nguyễn Phương U tại phòng ngủ trong nhà của Đ ở số 21 Ô 5, tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Vào khoảng tháng 6/2021, một mình Thiềm Việt Đ đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Bùi Nguyễn Phương U tại phòng ngủ trong nhà của Đ ở số 21 Ô 5, tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Do thời điểm phạm tội, Nguyễn Cao B chưa đủ 14 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên cơ quan chức năng đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dưỡng là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Thiềm Việt Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Căn cứ vào độ tuổi của bị hại, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Thiềm Việt Đ về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo qui định tại điểm c Khoản 3 Điều 142 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự xã hội ở địa phương. Do tác động của phim sex nên bị cáo cùng đối tượng Nguyễn Cao B đã nảy sinh ý định giao cấu với cháu Bùi Nguyễn Phương U nhiều lần nhằm thỏa mãn dục vọng của bản thân. Tại thời điểm bị xâm hại, cháu U đang ở độ tuổi còn quá nhỏ (hơn 7 tuổi), chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, chưa nhận thức được hành vi nhưng phải chịu nhiều tổn thương về thể chất và tinh thần tại thời điểm bị xâm hại cũng như tâm sinh lý trong tương lai do hành vi phạm tội của bị cáo Đ và đối tượng B gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo Thiềm Việt Đ ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét tại thời điểm phạm tội, bị cáo Đ chưa đủ tuổi thành niên nên cần áp dụng hướng dẫn tại chương XII Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) về người dưới 18 tuổi phạm tội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
- Nhân thân: Bị cáo Thiềm Việt Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Nguyễn Phương U nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện bị hại bà Nguyễn Thị N là mẹ ruột của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: do bị cáo chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Thiềm Việt Đ phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”;
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 142; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt bị cáo Thiềm Việt Đ 07 (bảy) năm tù, thời hạn tính từ ngày chấp hành án.
2. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bị cáo Thiềm Việt Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người bào chữa cho bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại Tp.HCM; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Cục THA dân sự tỉnh BR – VT; - THAHS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; luật sư bào chữa cho bị cáo; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; - Lưu: Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thái Hùng |