- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:09/2019/KDTM-ST Ngày: 26/11/2019 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Được.
2. Ông Tô Ngọc Liêm.
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Anh Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2019/TLST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 563/2019/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (VIB).
Trụ sở: Tầng 1, tầng 2 Tòa nhà S, số 111A P, phường B, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc; là người đại diện theo pháp luật
Ông Hà Quang T, sinh năm 1976; là người đại diện theo ủy quyền (Vắng mặt).
Ông Chìa Quốc Th, sinh năm 1987; là người đại diện theo ủy quyền (Có mặt).
Ông Phan Văn Dũng E, sinh năm 1989; là người đại diện theo ủy quyền (Vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Tầng 1, tầng 2 Tòa nhà S, số 111A P, phường B, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1952 (Vắng mặt).
3.2. Bà Huỳnh Thị Bé N, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
3.3. Chị Huỳnh N1, sinh ngày 12/02/2000 (Vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: cùng ngụ ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/04/2016, Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh An Giang ký với ông Huỳnh Trung H Hợp đồng tín dụng số 0116.HĐTD1.621.16, với nội dung: VIB cho ông Huỳnh Trung H vay số tiền 430.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động ngắn hạn gia công hàn tiện, sản xuất kinh doanh sản phẩm từ sắt, thép; Thời hạn vay: 06 tháng, từ ngày 02/11/2016 đến ngày 02/05/2017; Lãi suất vay: Lãi suất cho vay bằng 7,99%/năm trong 06 tháng phù hợp với các quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách của VIB tại từng thời kỳ. Trả nợ gốc: cuối kỳ; Trả nợ lãi: trả vào ngày 05 hàng tháng;
Ngày 13/05/2016 ông Huỳnh Trung H đã ký với Ngân hàng TMCP Q (VIB) – Chi nhánh An Giang Hợp đồng tín dụng số 0133.HĐTD1.621.16 với nội dung: VIB cho ông H vay số tiền 90.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung tiền mua xe tải nhãn hiệu THACO; Thời hạn vay: 48 tháng, từ ngày 14/05/2016 đến ngày 14/05/2020; Lãi suất vay: Lãi suất cho vay bằng 9,49%/năm (lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân). Hết thời gian ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm thông thường kỳ hạn 12 tháng (lĩnh lãi cuối kỳ) do VIB công bố tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,99%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần phù hợp với các quy định của Pháp luật, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và chính sách của VIB tại từng thời kỳ.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay gồm: Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, địa chỉ thửa đất tại ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Ngày 02/11/2016, VIB đã giải ngân cho ông H bằng Khế ước nhận nợ số 0116.03.KƯNN1.621.16 với số tiền 430.000.000 đồng và ngày 14/5/2016, VIB đã giải ngân cho ông H bằng Khế ước nhận nợ số 0133.KƯNN1.621.16 với số tiền 90.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng số 0116.HĐTD1.621.16 và Hợp đồng tín dụng số 0133.HĐTD1.621.16.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng ông Huỳnh Trung H luôn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Do đó, VIB đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của khách hàng sang nợ quá hạn từ ngày 03/5/2017. Trong quá trình giải quyết VIB đã đôn đốc, tạo điều kiện N1ều lần để ông H trả nợ nhưng khách hàng vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và theo các quy định của pháp luật.
Tính đến ngày 18/10/2019, ông H đã thanh toán được cho ngân hàng số tiền 240.308.000 đồng, ông H còn nợ lại số tiền gốc là 144.511.629 đồng và lãi 126.432.017 đồng. Nay Ngân hàng TMCP Q (VIB) yêu cầu ông Huỳnh Trung H trả số tiền tính đến ngày 18/10/2019 còn nợ lại nợ gốc 144.511.629 đồng và nợ lãi là 126.432.017 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 270.943.646 đồng và đề nghị tiếp tục cho tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 19/10/2019 cho đến khi ông Huỳnh Trung H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Trong trường hợp ông H không trả được nợ, hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì VIB được quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phát mãi tài sản thế chấp gồm:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, địa chỉ thửa đất tại ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Tại phiên Tòa hôm nay người đại diện hợp pháp của Ngân hàng trình bày: Tại đơn khởi kiện ngày 05/6/2019 Ngân hàng có yêu cầu ông H trả vốn và lãi tạm tính đến ngày 03/6/2019 là 494.480.503 đồng. Tuy N1ên, trong quá trình giải quyết, ông H có trả dần tiền vốn và lãi cho cho Ngân hàng 237.018.087 đồng, nên tại phiên Tòa hôm nay Ngân hàng yêu cầu ông Huỳnh Trung H trả số tiền còn nợ lại nợ gốc 139.498.629 đồng và nợ lãi là 117.963.787 đồng (tính đến ngày 26/11/2019), tổng cộng vốn và lãi là 257.462.416 đồng và đề nghị tiếp tục cho tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi ông Huỳnh Trung H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 237.018.087 đồng. Trong trường hợp ông H không trả được nợ, hoặc trả nợ chưa đầy đủ thì VIB được quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phát mãi tài sản thế chấp gồm:
Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, địa chỉ thửa đất tại ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Ông Huỳnh Trung H, bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và H giải, phiên tòa xét xử. Ông H, bà L, bà Bé N, Huỳnh N1 không gửi văn bản ý kiến cho Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Ngân hàng trình bày: Ngày 28/4/2016, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam và ông Huỳnh Trung H, ký hợp đồng tín dụng với số tiền 430.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng (từ ngày 02/11/2016 đến ngày 02/5/2017), giải ngân ngày 02/11/2016, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất trong hạn 7.99%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.
Ngày 13/5/2016, giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam và ông Huỳnh Trung H, ký hợp đồng tín dụng vay số tiền 90.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng (từ ngày 14/5/2016 đến ngày 14/5/2020), giải ngân ngày 14/5/2016, lãi suất cho vay bằng 9.49%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần phù hợp với các quy định của pháp luật.
Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số CH01743 do Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới cấp cho ông Huỳnh Trung H ngày 29/9/2014 và tài sản là xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh, biển số 67C-057.35 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu của ông Huỳnh Trung H.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H luôn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ và tính đến ngày 18/10/2019, ông H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 240.308.000 đồng, ông H còn nợ số tiền gốc là 144.511.629 đồng và lãi 126.432.017 đồng. Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông H trả số tiền vốn 139.498.629 đồng, lãi đến ngày 26/11/2019 là 117.963.787, tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi ông Huỳnh Trung H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ và có quyền đề nghị Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản là xe tải hiệu THACO. Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với 237.018.087 đồng nên cần đình chỉ theo Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phía ông Huỳnh Trung H, các bà Huỳnh Thị L, Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Xét thấy, hợp đồng tín dụng số 0116 ngày 28/4/2016, 0133 ngày 13/5/2019, giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam với ông Huỳnh Trung H được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận. Do ông H vi phạm nghĩa vụ, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ vốn 139.498.629 đồng, lãi đến ngày 26/11/2019 là 117.963.787, tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi ông H thanh toán xong khoản nợ là phù hợp Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự.
Hợp đồng tín dụng được đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0133B ngày 18/5/2016, trong đó ông H thế chấp xe ô tô tải hiệu THACO. Hợp đồng thế chấp có công chứng tại Văn phòng công chứng Cao Thị Hồng Cúc và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0269 ngày 07/11/2014 được công chứng tại văn phòng công chứng Mỹ Long, đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Chợ Mới. Nên việc Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ là có căn cứ theo Điều 299, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự.
Do các bà Huỳnh Thị L, Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do và không ghi nhận ý kiến nên không có cơ sở xem xét quyền lợi của các bà trong vụ án này.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 299, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 56, 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, xem xét:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB).
- Buộc ông Huỳnh Trung H trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB), số tiền vốn vốn 139.498.629 đồng, lãi đến ngày 26/11/2019 là 117.963.787, tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2019 .
- Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
- Đình chỉ một phần yêu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (VIB) đối với 237.018.087 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) khởi kiện ông Huỳnh Trung H. Ông H có nơi cư trú tại ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) khởi kiện ông Huỳnh Trung H do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 0116.HĐTD1.621.16, số 0133.HĐTD1.621.16 và có xác lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0269.HĐTC1.621.14/VIB, hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0133BV.HĐTC1.621.16 nên đây là tranh chấp xuất phát từ quan hệ “Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản”. Đồng thời, tranh chấp này phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là vụ án kinh doanh thương mại theo Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chuyển vụ án này từ tranh chấp dân sự thành tranh chấp kinh doanh thương mại là phù hợp.
Bị đơn ông Huỳnh Trung H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Huỳnh Thị L, Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên là có căn cứ.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng yêu cầu ông H trả số tiền vốn 139.498.629 đồng, lãi đến ngày 26/11/2019 là 117.963.787, tiếp tục tính lãi kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi ông Huỳnh Trung H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Đồng thời, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với 237.018.087 đồng. Xét thấy, việc thay đổi, bổ sung và rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện trong Hợp đồng tín dụng 0116.HĐTD1.621.16 ngày 28/4/2016 và Hợp đồng tín dụng số 0133.HĐTD1.621.16 ngày 13/5/2016 được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là Hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ theo Hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phía ông H không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện ông H yêu cầu thanh toán nợ theo các khế ước nhận nợ của Hợp đồng với số tiền vốn còn nợ 139.498.629 đồng và nợ lãi là 117.963.787 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 257.462.416 đồng (tính đến ngày 26/11/2019) là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có yêu cầu bên vay ông H phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh trên nợ gốc 139.498.629 đồng từ ngày 27/11/2019 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các khế ước nhận nợ của Hợp đồng tín dụng cho đến khi ông H thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo các hợp đồng tín dụng cho đến khi ông H thanh toán xong khoản nợ gốc là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Đối với Hợp đồng thế chấp chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0269.HĐTC1.621.14/VIB, ngày 07/01/2014, kèm theo phụ lục Hợp đồng số 0269.01.PLHĐTC1.621.16, ngày 29/4/2016, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất diện tích 642,5m2 thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, gắn liền trên phần đất là căn nhà cấp 4C, diện tích 69,3m2. Địa chỉ: ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 0133BV.HĐTC1.621.16, ngày 19/5/2016, tài sản thế chấp là xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H. Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng thế chấp trên được ký kết với Ngân hàng nhằm đảm bảo nghĩa vụ thanh toán nợ của ông H với Ngân hàng. Hợp đồng này ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hợp đồng có công chứng và được đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật nên Hợp đồng thế chấp trên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành theo Điều 319 Bộ luật dân sự 2015. Qua xem xét thẩm định tại chỗ, trên phần đất và nhà thế chấp, hiện nay có bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1. Trong quá trình giải quyết, ông H, bà L, bà Bé N, Huỳnh N1 không có ý kiến gì và cũng không có ý kiến phản đối về việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng đã ký kết. Do đó, khi ông H không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ là phù hợp Điều 320, Điều 323 Bộ luật dân sự 2015. Đối với xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35, phía Ngân hàng xác định xe này hiện ông H vẫn đang quản lý sử dụng, bà L trình bày ông H đã bán được 02 năm. Tuy N1ên, bà L không cung cấp được chứng cứ về việc ông H đã bán xe, trong khi ông H không có ý kiến về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, trường hợp ông H không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35 để thu hồi nợ là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1. Hội đồng xét xử xét thấy, những người này ở trong nhà trên phần đất thế chấp cho Ngân hàng. Ngân hàng không yêu cầu bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 cùng với ông H có trách N1ệm trong vụ kiện này và bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1 cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và căn nhà gắn liền trên đất. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết đối với bà Huỳnh Thị L, bà Huỳnh Thị Bé N, Huỳnh N1.
Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc Huỳnh Trung H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) số tiền vốn 139.498.629 đồng và nợ lãi là 117.963.787 đồng, tổng cộng vốn và lãi là 257.462.416 đồng (tính đến ngày 26/11/2019) và buộc ông Huỳnh Trung H phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại các khế ước nhận nợ của Hợp đồng tín dụng số 0116.HĐTD1.621.16 ngày 28/4/2016 và Hợp đồng tín dụng số 0133.HĐTD1.621.16 ngày 13/5/2016 kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi ông H thanh toán dứt nợ.
Trường hợp ông Huỳnh Trung H không thanh toán nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB), thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất diện tích 642,5m2 thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, gắn liền trên phần đất là căn nhà cấp 4C, diện tích 69,3m2. Địa chỉ: ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H và xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Về chi phí tố tụng gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông H phải chịu. Số tiền này Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB) đã tạm nộp, nên ông Huỳnh Trung H phải có trách N1ệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 600.000đồng là phù hợp.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 320, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Các Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) đối với ông Huỳnh Trung H.
Buộc ông Huỳnh Trung H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) số tiền vốn 139.498.629 đồng và nợ lãi 117.963.787 đồng (tính đến ngày 26/11/2019), tổng cộng vốn và lãi là 257.462.416 đồng (Hai trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm mười sáu đồng).
Kể từ ngày 27/11/2019 ông Huỳnh Trung H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại các khế ước nhận nợ của Hợp đồng tín dụng số 0116.HĐTD1.621.16 ngày 28/4/2016 và Hợp đồng tín dụng số 0133.HĐTD1.621.16 ngày 13/5/2016 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) thì lãi suất mà ông H vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB).
Trường hợp ông Huỳnh Trung H không thanh toán nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB), thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là:
Quyền sử dụng đất diện tích 642,5m2 thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ số 45, gắn liền trên phần đất là căn nhà cấp 4C, diện tích 69,3m2. Địa chỉ: ấp Long Định, xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác khác gắn liền với đất số BU 222044, số vào sổ cấp GCN: CH 01743 do UBND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 29/9/2014 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H và xe ô tô tải hiệu THACO, màu xanh; biển số 67C-057.35; số loại TOWNER 750A; số khung 75ACGC094832; số máy DA465QE62002353F5 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 009056 do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 16/5/2016 thuộc sở hữu hợp pháp của ông Huỳnh Trung H.
Trường hợp việc xử lý tài sản thế chấp chưa thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng thì ông Huỳnh Trung H còn phải thanh toán tiếp cho đến khi trả hết nợ.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) đối với số tiền 237.018.087 đồng.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: 12.873.120 đồng (mười hai triệu, tám trăm bảy mươi ba nghìn, một trăm hai mươi đồng) ông Huỳnh Trung H phải chịu.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.889.000 đồng (Mười một triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn đồng) cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB), theo biên lai thu số 0013178 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp ngày13/6/2019.
- Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Trung H phải có trách N1ệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q (VIB) 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Anh Thư |