vanban.org

Bản án 09/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lại Văn Th, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T phạm tội đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Lại Văn Th 20.000.000 (Hai mƣơi triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc. Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 17.000.000 (Mƣờ i bảy triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Văn Th - đồng bọn - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lại Văn Th, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T phạm tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự Các; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số 09/2018/HSST
Ngày 11-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thi ̣ Nguyê ̣t Á nh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thi ̣ Ngo ̣c;

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 381/2017/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 477/2017/HSST-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Lại Văn Th, sinh năm 1981 tại tỉnh T; thƣờng trú: Số 111/18 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông La ̣i Trƣờ ng C (chết) và bà Nguyễn Thi ̣ T, sinh năm 1952; bị cáo có 03 anh chi ̣ em lớ n nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất là bị cáo ; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thi ̣ X , sinh năm 1982, có 02 con lớ n sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09/9/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/9/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Nguyễn Thế P , sinh năm 1975 tại tỉnh T; thƣờng trú: Thôn L, xã T, huyê ̣n N, tỉnh T; chỗ ở: 15/8, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Thế P , sinh năm 1940 và bà Lê Thi ̣ H, sinh năm 1947; bị cáo có 06 chị em, lớ n nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1981; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; có 02 con lớ n sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09/9/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/9/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Lê Xuân T, sinh năm 1983 tại tỉnh T; thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh T; chỗ ở: 5C/16, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Xuân T, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1957, bị cáo có 04 chị em, lớ n nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1986, bị cáo có vợ là Nguyễn Thi ̣ H , sinh năm 1986 và 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09/9/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/9/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

4. Lại Văn Đ, sinh năm 1984 tại tỉnh T; thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyê ̣n N, tỉnh T; chỗ ở : 144/36/3A, khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lại Văn R, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thi ̣ L, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh em, lớ n nhất là bi ̣ cáo , nhỏ nhất sinh năm 1990; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thi ̣ N, sinh năm 1991; có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 09/9/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/9/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

5. Lƣơng Văn K, sinh năm 1986 tại tỉnh T; thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyê ̣n N , tỉnh T; chỗ ở: 31/19, khu phố N, phƣờng D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lƣơng Văn K, sinh năm 1961 và bà Lê Thi ̣ A, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh em, lớ n nhất là bi ̣ cá o, nhỏ nhất sinh năm 1994; bị cáo có vợ tên Lại Thị T, sinh năm 1985; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 09/9/2017, đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú ngày 18/9/2017, bị cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/9/2017, Lại Văn T h, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T đến quán cà phê Hồng Lĩnh tại số 95, đƣờ ng 21, khu phố N, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B để uống nƣớc. Khi đến quán, các bị cáo nhìn thấy một bộ bài tây 52 lá để sẵn trên bàn và đa qua sƣ̃

̉ du ̣ng nên các bi ̣ cáo rủ nhau đánh bài cào ăn tiền, mỗi ván bài ăn thua tƣ̀ 50.000 đồng đế n 200.000 đồng. Lại Văn T h và đồng bọn đánh ba ̣c tƣ̀ 13 giờ 00 phút đến 13 giờ 40 phút lúc này bị Công an phƣờ ng Di An, thị xã̃ Dĩ An bắt quả tang . Khi lƣ̣c lƣợng Công an bắt quả tang thi sồ ́ tiền dƣớ i chiếu b ạc của các bị cáo là 11.900.000 đồng và 01 bô ̣ bài tây 52 lá.

Quá trình điều tra, xác định đƣợc Lại Văn T h mang theo 6.050.000 đồng, dùng 5.500.000 đồng để đánh bạc, thắng 550.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 3.100.000 đồng dƣớ i chiếu ba ̣c và thu giƣ̃ trong ngƣờ i Lại Văn Th 3.500.000 đồng; Nguyễn Thế P mang theo 2.950.000 đồng, dùng 1.950.000 đồng đánh bạc, thua 1.950.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 300.000 đồng và thu giữ trong ngƣời Phiên 700.000 đồng; Lê Xuân T dùng 1.200.000 đồng đánh bạc, thắng 3.400.000 đồng, khi bị bắt thu giữ dƣớ i chiếu ba ̣c 5.200.000 đồng; Lại Văn Đ mang theo 2.750.000 đồng, dùng 2.200.000 đồng đánh bạc, thua 750.000 đồng, khi bị bắt thu giữ dƣớ i chiếu 2.000.000 đồng; Lƣơng Văn K mang theo 2.850.000 đồng, dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, thua 1.250.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 1.300.000 đồng dƣớ i chiếu ba ̣c và thu g iƣ̃ trong ngƣờ i Lƣơng Văn K 300.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 12.850.000 đồng, số tiền còn lại 3.500.000 đồng cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã trả lại cho các bị cáo.

Vật chứng: 01 bô ̣ bài tây 52 lá.

Bản Cáo trạng số 02/QĐ-KSĐT ngày 11 tháng 12 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Lại Văn Th, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 248 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, p khoản 1 điều 46; điều 53 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lại Văn T h, Nguyễn Thế P , Lại Văn Đ , Lƣơng Văn K và Lê Xuân T mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bô ̣ bài tây 52 lá và tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc số tiền 12.850.000 đồng các bi ̣ cáo dùng để đánh bạc.

Tại phiên tòa, các bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tạm giữ các bị cáo sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cƣ trú là đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; những ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 09/9/2017, tại quán cà phê H công an phƣờng Dĩ An, thị xã Dĩ An bắt quả tang Lại Văn Th, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T đang đánh bạc dƣới hình thức đánh bài c ào và số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 12.850.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đánh bạc dƣới hình thức chơi bài cào thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau với số tiền đánh bạc là 12.850.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 02/QĐ-KSĐT ngày 11 tháng 12 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc dƣới hình thức đánh bài cào nhằm tƣớc đoạt tiền của nhau là vi phạm pháp luật bị Nhà nƣớc nghiêm cấm, nhƣng vì tham lam tƣ lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể, các bị cáo đều cùng nhau tham gia đánh bạc nhƣng không có sƣ̣ phân công để bi ̣ cáo nào làm cái mà tham gia đánh bạc với vai trò nhƣ nhau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng đối vớ i bi ̣ cáo Nguyễn Thế P có cha là ông Nguyễn Thế P là ngƣời có công đƣợc nhà nƣớc tặng danh hiệu Huân chƣơng chiến sĩ giải phóng hạ ng nhì. Đây là tinh tiết già

̉m nhe ̣ đƣợc quy đi ̣nh ta ̣i khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣̀

nên cần xem xét khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣̀

t đối vớ i bi ̣ cáo .

Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời có nhân thân tốt thể hiện có việc làm ổn định, chƣa có tiền án, tiền sự.

Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, nơi cƣ trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng; xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng không làm ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã Dĩ An.

Xét mức hình phạt đề nghị đối với bị cáo Đ và K là phù hợp. Đối với bị cáo T h tham gia đánh ba ̣c vớ i số tiền cao nhất và bi ̣ cáo T ăn ba ̣c vớ i số tiền cao nhất nên Hô ̣i đồng xét xƣ̉ xƣ̉ ph ạt hai bị cáo T h và T mƣ́ c pha ̣t tiền cao hơn đề nghi ̣ của vi ̣ đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát . Đối với bị cáo P có cha là ngƣời có công đƣợc nhà nƣớc tặng Huân chƣơng chiến si giã ̉i phóng ha ̣n nhi nên Hô ̣̀

i đồng x ét xử xử phạt bị cáo P mƣ́ c pha ̣t tiền thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 điều 248 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mƣơi triệu đồng”, tuy nhiên Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

+ Xét số tiền 12.850.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, căn cứ vào điểm b, khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm c, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

+ Xét 01 bô ̣ bài tây 52 lá các bị cáo sử dụng làm công cụ để đánh bạc, căn cứ vào điểm a, khoản 1 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.

(Vâ ̣t chƣ́ ng và số tiền 12.850.000 đồng đa chuyển giao ch o Chi cu ̣̃

c Thi hành án dân sƣ̣ thi ̣ xa Dĩ An theo biên bã

̉n giao nhâ ̣n vâ ̣t chƣ́ ng ngày 12/12/2017)

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lại Văn Th, Nguyễn Thế P, Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T phạm tội đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, p khoản 1 điều 46; điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lại Văn Th 20.000.000 (Hai mƣơi triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Lê Xuân T 17.000.000 (Mƣờ i bảy triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Lại Văn Đ 15.000.000 (Mƣờ i lăm triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

- Xử phạt bị cáo Lƣơng Văn K 15.000.000 (Mƣờ i lăm triê ̣u ) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xƣ̉ phạt Nguyễn Thế P 12.000.000 (Mƣờ i hai triê ̣u) đồng sung quỹ Nhà nƣớc.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 12.850.000 (Mƣờ i hai triê ̣u tám trăm năm mƣơi nghìn) đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bô ̣ bài tây 52 lá.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/12/2017, biên lai thu tiền số 00632 ngày 12/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lại Văn Th , Nguyễn Thế P , Lại Văn Đ, Lƣơng Văn K và Lê Xuân T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án.

Cỡ chữ