- Tranh chấp gì? án hình sự — "DIỆP N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HS-ST. Ngày: 25-01-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hoa.
2. Ông Phạm Văn Tư.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 25/01/2018 tại phòng xử án , Tòa án nhân dân thành phố V mở phiên tòa xét xử sơ thẩ m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2017/HSST, ngày 27/12/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Diệp N, sinh năm 1979 tại tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú : Số nhà 04, đườ ng T, Phườ ng 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Nơi ở hi ệ n nay : Số nhà 04, đườ ng T, Phườ ng 4, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không có nghề nghiệ p ; Trình độ văn hó a: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Diệp M, sinh năm 1946 và bà Nguyễn N (chết); anh, chị, em ruột: Có 14 người; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiề n án: Không có.
Tiền sự: 01 lần, ngày 22/7/2017 bị phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng (chưa chấp hành).
Bị cáo đang được cho tại ngoại.
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố về tội “Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có mặt.
Người bị hại:
1. Ông Lê Văn M, sinh năm 1973, nơi cư trú: Số nhà 3B, Khóm 2, Phường 9, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.
2. Ông Nguyễn V, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số nhà 52, đường N, Khóm 2, Phường 3, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.
Ngườ i làm chứng: Bà Trần Thị K, sinh năm 1980, nơi cư trú: Số nhà 23, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và quá trì nh xé t hỏ i
, tranh luậ n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:
Diệp N là đối tượng nghiện ma túy, ngày 22/7/2017 N đã bị Công an Phường 9, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành hành vi trộm cắp tài sản, N chưa chấp hành việc nộp tiền phạt. Khoảng 17 giờ ngày 23/8/2017 N đang ở nhà tại số 04, đường T, Phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long thì có Trần Thị K đi xe môtô biển kiểm soát số 86V1- 5245 đến gặp N và rủ N đi tìm tài sản để trộm, do muốn có tiền để sử dụng ma túy nên N đã đồng ý, đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 24/8/2017 N điều khiển xe môtô biển kiểm soát nêu trên chở K đi trên đường Nguyễn Đ, Phường 9, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long tìm tài sản để trộm, khi đi ngang qua quán cà phê Diễm Ngô của anh Lê Văn M, tại số 3B, Khóm 2, Phường 9, thành phố V, N phát hiện có 10 cái ghế màu đỏ, N dừng xe lại trước hàng rào của quán, N trèo rào vô bên trong quán, còn K ngồi ở ngoài cảnh giới, N lấy ghế chuyền ra ngoài cho K, xong N trèo rào ra ngoài và tiếp tục điều khiển xe chở K ngồi phía sau ôm 10 cái ghế chạy đến đường P, Phường 4, thành phố V để tìm nơi tiệu thụ, lúc này có lực lượng Công an Phường 4, thành phố V trên đường tuần tra phát hiện bắt giữ và chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để thụ lý điều tra theo thẩm quyền.
Tại Kết luận số: 113/HĐĐG&TTHS, ngày 30/8/2017 đã kết luận, giá trị 10 cái ghế nhựa là 250.000 đồng. Quá trình điều tra Công an đã trao trả tài sản lại cho anh M xong, anh M không còn yêu cầu gì.
Đối với Trần Thị K có tham gia vào vụ trộm cắp nêu trên, nhưng hành vi của K chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hành sự theo quy định, nên đã đề nghị xử lý hành chính đối với K xong.
Riêng xe môtô biển kiểm soát số 86V1- 5245 do K khai mượn của một người tên P không rõ họ, tên, vì vậy không làm việc được, Cơ quan Công an thành phố V đã có ủy thác cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận để xác minh làm rõ nguồn gốc xe đến nay chưa có kết quả, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tách riêng tiếp tục xác minh, khi có kết quả sẽ xử lý sau.
Trong quá trình điều tra N tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản. Vào khoảng 10 giờ ngày 03/11/2017 N đi bộ đến trước nhà anh Nguyễn V, tại số 3, Khóm 2, Phường 3, thành phố V dùng kiềm cắt trộm hai cuộn dây điện thì bị anh V phát hiện bắt giữ, thu giữ hai cuộn dây điện, một cây kiềm cộng lực, một túi xách bằng nhựa và chuyển vật chứng cho Cơ quan điều tra Công an thành phố V để xử lý.
Tại Kết luận số: 145/HĐĐG&TTHS, ngày 15/11/2017 đã kết luận, giá trị hai cuộn dây điện là 361.023 đồng. Quá trình điều tra Công an đã trao trả tài sản lại cho anh V xong, anh V không còn yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS, ngày 25/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, đã truy tố bị cáo N về tội “Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Sau khi bị cá o nghe Kiể m sá t viên đọ c xong Cá o trạ ng bị cá o
không có ý kiến gì và đồng ý với nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i bị cá o về tội trộm cắp tài sản.
Bị hại là ông M, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, ông V tại phiên tòa không có ý kiến gì khác so với lờ i khai tạ i Cơ quan điề u tra.
Sau khi nghe lờ i trì nh bà y của bị cáo , lời trình bày của bị hại tại phiên tòa . Quan điể m củ a Kiểm sá t viên tại phiên tòa là giữ nguyên quan điể m truy tố bị cá o theo Cáo trạng số: 01/CT-VKS, ngày 25/12/2017 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Diệp N về tội “trộm cắp tài sản'' theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Khi luận tội xong, Kiểm sá t viên đề nghị phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo, về phầ n dân sự Kiể m sá t viên đề nghị không xem xét vì tài sản đã trả cho bị hại xong, bị hại không còn yêu cầu gì, đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng là cây kiềm và giỏ xách.
Bị cáo, bị hại (ông K) không có ý kiến tranh luậ n.
Kế t thú c phầ n tranh luậ n, bị cáo nói lời sau cù ng: “Bị cáo không trình bày lời nói sau cùng”.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c
thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999“Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra , phù hợp với lời khai của người bị hại. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Diệp N về tội “Trộm cắp tài sản'' theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm hại đế n tà i sả n củ a ngườ i khá c đượ c phá p luậ t bả o vệ , bị cáo có hành vi lén lúc lấy trộm tài sản của ông ông M, ông k, thiệt hại được xác định là 711.023 đồ ng, nhưng trước đó bị cáo đã có bị phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa chấp hành xong, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, ý thức của bị cáo biết rõ hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực về nhận thức cũng như điều khiển hành vi, nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã gây ra. Do vậ y, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cầ n thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định theo quy đị nh tạ i Điề u 33 của Bộ luậ t Hình sự năm 1999, để cho bị cá o có thời gian học tập, cải tạo và trở thà nh ngườ i công dân có ích cho xã hội sau nà y.
[3] Xét về nhân thân của bị cáo, bị cáo không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự, khi phạ m tộ i trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thậ t thà khai bá o, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng không phải là lần đầu. Nên có căn cứ cho bị cá o hưở ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đị nh tạ i điể m g, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, chứ không đủ căn cứ áp dụng điể m h khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[4] Từ nhữ ng căn cứ nêu trên , xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị phạt bị cáo mứ c hình phạt từ 06 tháng đế 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đ ã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và sẽ xem xét, quyế t đị nh áp dụng hình phạt cụ thể cho bị cáo trong phần hình phạt. Đồng thời việc đề nghị của Kiể m sá t viên về phầ n dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp, nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n . Riêng chiếc xe môtô là phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng Cơ quan điều tra chưa điều tra được, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách thành vụ việc khác nên không đề cặp xử lý trong vụ án này.
[5] Về hì nh phạ t bổ sung , theo quy định tại khoản 5 Điề u 138 của Bộ luật Hình sự quy định “Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ năm triệu đồ ng đế n năm mươi triệ u đồ ng” , do đó , bị cáo có thể bị áp dụng hình ph ạt bổ sung là phạt tiề n. Tuy nhiên, theo cá c tà i liệ u , chứ ng cứ có trong hồ sơ vụ á n đượ c kiể m tra tạ i phiên tò a cho thấ y bị cá o không có nghề nghiệ p , không có thu nhậ p , không có tà i sản nào khác . Nên Hộ i đồ ng xé t xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đố i vớ i bị cáo.
[6] Về trá ch nhiệ m dân sự , tài sản đã được thu hồi trả cho các bị hại xong, các bị hại không còn yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét. Đối với cây kiềm và giỏ xách là công cụ dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy là đúng quy định.
[7] Bị cáo còn phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng, theo quy định tại điể m
a khoản 1 Điề u 23 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng Hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ T ĐỊ NH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Diệp N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 và Điề u 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; xử phạt bị cáo Diệp K - 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự :
- Tài sản đã được thu hồi trả cho các bị hại xong.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kiềm cộng lực và 01 cái giỏ xách bằng nhựa (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V).
4. Về trách nhiệm nộp án phí:
Áp dụng khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng Hình sự năm 2015 và điể m a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội . Buộ c bị cá o Diệp K phải nộ p 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng) tiề n án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyề n khá ng cá o:
Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại (ông M) vắ ng mặ t có quyền kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh củ a pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhậ n: - TAND tỉ nh Vĩ nh Long; - VKSND TP V; - CC THA DS TP V; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ á n. | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký ) Hồ Thanh Hồ ng |