- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST Vũ Trọng Q - Đánh bạc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2018/HS-ST Ngày 09-5-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Hóa
Ông Vũ Văn Lẫy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ban - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2018/LST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Vũ Trọng Q, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 19/788 đường T, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng H và bà Phạm Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 68/2015/HSST ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/3/2018, tạm giam ngày 19/3/2018; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1964. Nơi cư trú: 11/92 đường Đại học Dân Lập Hải phòng, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Trọng H, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Số 19/788 Đường T, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Anh Bùi Huy H, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 15/8/2017, bị cáo một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 16R5-9936 từ L sang K, khi bị cáo đi đến trước cửa nhà số 236 đường C, bị cáo thấy trên vỉa hè có để chiếc cân không có ai trông coi, bị cáo liền nảy sinh ý định trộm cắp, bị cáo đi xe máy lên vỉa hẻ đến bên cạnh chiếc cân, bị cáo ngồi trên xe máy cúi xuống dùng hai tay bê chiếc cân lên đặt vào võng xe, lúc đó có người chạy từ trong nhà ra hô trộm, bị cáo liền phóng xe xuống đường đi về hướng Cầu Niệm, đi được khoản 3, 4 nhà thì đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 15G1-504.22 do anh Bùi Huy H điều khiển đang đi cùng chiều làm cả hai đều ngã ra đường, bị cáo ngồi dạy nghe thấy tiếng có người nói báo công an, bị cáo đứng dạy bỏ lại xe máy và chiếc cân chạy bộ về phía Cầu Niệm, khi bị cáo chạy đến gần Cầu Niệm thì bị Công an phường H bắt giữ đưa về trụ sở để làm rõ sự việc.
Tang vật thu giữ gồm: Xe máy biển kiểm soát 16R5-9936; 01 chiếc cân đồng hồ; 01 thẻ căn cước công dân của bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 06 ngày 05/4/2018, trả lại cho ông Hoàng Văn Th (người bị hại) 01 chiếc cân đồng hồ đã qua sử dụng màu xanh, nhãn hiệu Bến Thành, loại cân tối đa 100kg; trả lại cho ông Vũ Trọng H (bố đẻ của bị cáo) 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 16R5-9936; 01 thẻ căn cước công dân của bị cáo đại diện ông Vũ Trọng H nhận thay.
Tại Kết luận định giá tài sản số 24/KL-ĐG ngày 28/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận K kết luận: 01 chiếc cân đồng hồ (cân bàn) đã qua sử dụng màu xanh, nhãn hiệu Bến Thành, mặt cân bằng INOX, loại 100kg được sản xuất năm 2011 tại thời điểm ngày 15/8/2017 có giá trị là: 400.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKS KA ngày 13/4/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Trọng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Vũ Trọng H trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo, ngày 15/8/2017, bị cáo có hỏi mượn ông chiếc xe mô tô để đi có việc, chiếc xe này là của con trai ông là Vũ Trọng Chức giao lại cho ông sử dụng, ông không biết bị cáo dùng xe đi trộm cắp tài sản và hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo, ông Hiền đã nhận được xe và không có yêu cầu gì.
Người làm chứng, anh Bùi Huy H trình bày: Ngày 15/8/2017 anh và bị cáo đã va chạm xe tại gần Cầu Niệm, anh chỉ bị xây sát nhẹ, gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh 700.000 đồng để sửa xe, anh Hòa không biết về hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo, tại phiên tòa anh Hòa không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173 ; điểm h, s Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Trọng Q mức án từ 09-12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định ngày 15/8/2017, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc cân đồng hồ (cân bàn) của ông Hoàng Văn Th có giá trị 400.000 đồng tại trước cửa nhà số 263 C, phường H, quận K, thành phố Hải Phòng.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo đã có một tiền án tại Bản án số 68/2115/HSST ngày 30/12/2015, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, lần phạm tội này tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến Q sở hữu tài sản của người khác, với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích song do đã áp dụng là tình tiết định tội nên không tính là tái phạm, vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đười sống xã hội một thời gian theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K rút áp dụng tình tiết tăng nặng “dùng phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” đối với bị cáo phạm tội, đươc quy định tại điểm n khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Về dân sự: Ông Hoàng Văn Th đã nhận lại 01 chiếc cân đồng hồ, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã trả lại cho ông Hoàng Văn Th 01 chiếc cân đồng hồ đã qua sử dụng màu xanh, nhãn hiệu Bến Thành, loại cân tối đa 100kg; 01 thẻ căn cước công dân của bị cáo đại diện ông Vũ Trọng H nhận thay; đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 16R5-9936, Công an đã trả lại cho ông Vũ Trọng H (bố đẻ của bị cáo) do không xác định được bị cáo dùng chiếc xe làm phương tiện phạm tội là phù hợp.
Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Trọng Q 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/3/2018.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTP Hải Phòng;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận K;
- Chi cục THADS quận K;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: HS; HCTP.
Sơn Thị Nhân
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc
trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành Q công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các
(ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam,
thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ:
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo
được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ Q lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ Q lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ Q lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người
tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260
của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |