- Tranh chấp gì? án hình sự — "G và H mua bán pháo nổ - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Trần Văn G và Hoàng Trung H phạm tội “Buôn bán hàng cấm ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h ình sự; Điều 65 Bộ luật h ình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày: 24/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Bà Đỗ Thị Thủy
2. Ông Nguyễn Văn Bi ên
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị H òa - Kiểm sát vi ên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở T
òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án hình sự s ơ th ẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 07 /2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:
1/ Trần Văn G, sinh ngày 21 tháng 10 năm 1999; Tại: x ã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H (nay là xã Y), huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr
ình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Trần Văn Th và bà Hoàng Thị Th ; chưa có v ợ ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi n ơi cư trú ; Có mặt.
2/ Hoàng Trung H, sinh năm 1992; Tại: x ã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa ; Nơi cư trú: Thôn B , xã H (nay là xã Y), huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr ình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ho àng Văn T và bà Trần Thị B ; chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi n
ơi cư trú; Có mặt.
Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan:
+ Bà Hoàng Thị Th - Sinh năm 1971 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ , xã Y, huyện H , tỉnh Thanh Hóa.
+ Anh Mai Khắc Đ - Sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 1, x ã N, huyện N , tỉnh Thanh Hóa.
+ Anh Mai Đình Kh - Sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 1, x ã N, huyện N , tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt nh ư sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ng ày 06/01/2019 tại xóm 2, x ã Nga Thành, huyện Nga Sơn, t ỉnh Thanh Hóa , Công an huyện Nga S ơn b ắt quả tang các đối t ư ợng Mai Khắc Đ, sinh năm: 1995 và Mai Đình Kh, sinh năm 1992 cùng trú tại xóm 1, x ã Nga Tân, huyện Nga S ơn , tỉnh Thanh Hóa đang bán pháo nổ cho H à Văn M, sinh năm 1992, trú tại xóm 5, x ã Nga An, huyện Nga S ơn , tỉnh Thanh Hóa. Thu giữ tại chỗ 04 hộp pháo h ình vuông, bên ngoài đư ợc bọc b ằng giấy m àu đỏ, in h ình hoa văn, mặt tr ên bọc giấy thiếc m àu vàng. Sau khi bị bắt quả tang
Đ và Kh khai nhận số pháo nói tr ên các đối t ư ợng mua của Trần Văn
G, sinh năm 1999, trú tại thôn Đắc Cốc, x ã Hà Lâm, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Cơ q uan CSĐT Công an huyện Nga S ơn đ ã tiến h ành Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn
G và thu đư ợc 03 hộp pháo.
Xét thấy h ành vi buôn bán pháo nổ của Trần Văn
G thuộc thẩm quyền điều tra của Công an huyện H à Trung. Ngày 24/6/2019 Cơ quan CSĐT Công an hu yện Nga Sơn đ ã chuyển, b àn giao toàn bộ hồ s ơ tài li ệu li ên quan tới C ơ quan CSĐT Công an huyện H à Trung để điều tra theo thẩm quyền.
Qua quá trình điều tra các bị cáo đều khai: V ào khoảng giữa tháng 12/2018 Hoàng Trung H và Trần Văn G thống nhât mua pháo nổ về bán kiếm lời.
H tìm mua 07 hộp p háo nổ có tổng trọng l
ư ợng 9,93 kg với giá 4.200.000 đồng v à bán lại cho G toàn bộ số pháo tr ên với giá 4.900.000 đồng. Sau đó G bán lại 04 hộp pháo nổ có tổng trọng l
ư ợng 5,73kg cho Mai Khắc Đ và Mai Đình Kh với giá 3.200.000 đồng để h ư ởng tiền ch ênh lệch. Còn 03 hộp pháo có tổng trọng l
ư ợng 4,2kg G cất dấu tại nh à với mục đích bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số
337/KLGĐ-PC09 ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- 04 hộp h ình hộp chữ nhật,
mỗi hộp có kích th ư ớc (14,5x14,5x15)cm đ ư ợc đựng trong 01 th ùng các tông, có ký hiệu “I” gửi giám định
đều l à pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (
có chứa thuốc pháo v à khi bị kích thích hoặc đốt có gây t iếng nổ). Tổng khối l
ư ợng của 04 hộp l à 5,73kg.
- 03 hộp h ình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích th
ư ớc (14,5x14,5x15)cm đ ư ợc đựng trong 01 th ùng các tông, có ký hiệu “III” gửi giám định đều l
à pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo v
à khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối l
ư ợng của 03 hộp l
à 4,2kg.
Tại bản c áo trạng số 11 /CT-VKS-HT ngày 07/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá đ ã truy tố Trần Văn G và Hoàng Trung H về tội “Buôn bán h àng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật h
ình sự.
Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s
, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật h ình sự. Đề ng hị xử phạt Trần Văn
G từ 18 đến 21 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo; xử phạt Ho
àng Trung H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo ; Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng h
ình sự, tịch thu ti êu hủy to àn bộ số pháo nổ l
à mẫu vật c òn lại sau giám định , tịch thu xung quỹ nhừ n ư ớc số tiền 3.200.000đ và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối với các bị cáo.
Lời nói sau c ùng các bị cáo biết h ành vi của m ình là vi phạm pháp luật. Đề
nghị Hội đồng x ét xử xem xét giảm nhẹ h
ình phạt và xin đư ợc h ư ởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Về h ành vi, quyết định tố tụng
của C ơ quan đi ều tra Công an huyện H à Trung, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện H à Trung, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr
ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h
ình sự. Quá tr ình điều tra, truy tố v à tại phi ên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h
ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các h ành vi, quyết định tố tụng của C
ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về h ành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phi
ên tòa, bị cáo Trần Văn G và Hoàng Trung H đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m
ình đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của các bị cáo với lời khai của ng ư ời liên quan, ngư ời làm chứng, bi ên bản khám xét, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khá
c có trong hồ s ơ v ụ án l à hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ c ơ s ở kết luận:
Khoảng vào giữa tháng 12/2018 Trần Văn G điện thoại cho Hoàng Trung H hỏi mua pháo về bán lấy tiền ch
ơi t ết, H đồng ý. Sau đó v ài ngày H đi tìm mua pháo thì gặp một ng ư ời đ àn ông ở tỉnh Bắc Giang (không biết tên tuổi, địa chỉ), H hỏi chỗ bán pháo th ì ngư ời đ àn ông nói có pháo dàn 36 quả v à bán với giá 600.000 đồng một/
hộp, H điện về cho G và thỏa thuận bán lại cho G 700.000 đồng/ hộp (bảy trăm ngh ìn đồng) th ì G đồng ý. H đặt cọc tiền cho ng ư ời đàn ông này 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), đến tối c
ùng ngày H ra khu vực cầu Hà Châu (cầu nối liền giữa tỉnh Thái Nguy
ên và tỉnh Bắc Giang) lấy pháo v à trả nốt số tiền 2.200.000 đồng cho ng
ư ời n ày rồi để tất cả pháo v
ào thùng cát tông màu vàng, ghi số điện thoại của m
ình lên giấy rồi d ùng băng dính đã chuẩn bị sẵn dán lên mặt th ùng, sau đó H mang thùng pháo này ra khu vực đ ư ờng quốc lộ gửi l
ên một xe khách chạy tuyến Thanh Hóa (không nhớ r
õ đặ c điểm của xe khách), đồng thời gửi số điện thoại của nh
à xe để G liên lạc nhận pháo. Đến tối c
ùng ngày G đi xe máy lên khu vực đ ư ờng tỉnh lộ 508 giao cắt với đ
ư ờng quốc lộ 1A v
à nhận pháo, sau khi lấy đ ư ợc pháo th ì G mang về nh à cất giấu.
Đến ng ày 06/01/2019 G bán cho Mai Đình Kh 04 hộp pháo với giá 3.200.000 đồng, c òn lại 03 hộp pháo G cất giấu trong nh à để có ai hỏi mua th ì sẽ bán. Sau khi bán đư ợc pháo, G đưa cho m ẹ đẻ l à bà Hoàng Thị Thao 1.000.000 đồng để trả cho
H vì giữa ha i bên trư ớc đó thống nhất trả dần.
Số pháo nổ thu đ ư ợc qua giám định có kết luận v
à khối l ư ợng nh ư sau:
- 04 hộp h ình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích th
ư ớc (14,5x14,5x15)cm đ ư ợc đựng trong 01 th ùng các tông, có ký hiệu “I” gửi giám định đều l
à pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo v
à khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối l
ư ợng của 04 hộp l
à 5,73kg.
- 03 hộp h ình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích th
ư ớc (14,5x14,5x15)cm đ ư ợc đựng trong 01 th ùng các tông, có ký hiệu “III” gửi giá m định đều l à pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo v
à khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối l
ư ợng của 03 hộp l
à 4,2kg.
Tổng cộng 07 hộp có khối l
ư ợng l à 9,93kg pháo nổ.
Như v ậy h ành vi mua bán 9,93kg pháo nổ của Trần Văn
G và Hoàng Trung H đã phạm tội “Buôn bán h àng cấm”, tội phạm v à hình phạt đ ư ợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật h
ình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nghi
êm trọng của h ành vi phạm tội:
Hành vi buôn bán hàng cấm của các bị cáo l à rất nghi êm trọng v à nguy hiểm cho xã hội, đ ã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an v
à an toàn xã hội. M à nghiêm trọng h ơn n ữa loại h àng cấm m à các bị cáo buôn bán l à pháo nổ, các bị cáo đ ã thực hiện tội phạm trong
khi Đảng, Nh à nư ớc đang vận động tuy ên truyền việc thực hiện các quy định về quản lý, sử dụng pháo
, về việc cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt pháo nổ đã đư ợc đông đảo tầng lớp nhân dân h
ư ởng ứng v à tự giác chấp h ành. Trong thời gian qua những ng ư ời bị tai nạn do pháo, sự
ô nhiễm môi trư ờng, những thiệt hại về kinh tế đ
ã đư ợc ngăn chặn v à đẩy l ùi. Nhưng các b ị cáo chỉ v ì lợi ích cá nhân không chính đáng m à bất chấp pháp luật lao v ào con đư ờng phạm tội. Do vậy h
ành vi của các bị cáo cần phải đ ư ợc xử lý nghi êm khắc nhằm giáo dục các bị cáo v à phòng ngừa chung.
Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện h
ành vi phạm tội nh ưng không có sự câu kết chặt trẽ , nên là đồng phạm giản đ ơn, mỗi bị cáo đều thực hiện một h
ành vi phạm tội. Tuy nhiên G là ngư ời khởi x ư ớng cho H mua và trực tiếp bán cho Kh, nên mức h ình phạt của G cao hơn H.
[4]. Về t ình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h
ình sự:
Các bị cáo không phải chịu t ình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự.
Trong quá trình điều tra cũng nh ư t ại phi ên tòa các bị cáo đều khai báo th ành khẩn, sau khi phạm tội tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, luôn chấp h
ành mọi chủ tr ương chính sách pháp lu ật của Nh à nư ớc tại địa ph ương, đư
ợc chính quyền xã Yến S ơn xác nh ậ n; Ngoài ra Công an thị trấn H à Trung, huyện H à Trung có xác nhận ng ày 23/01/2020 bị cáo G và bị cáo H đã có thành tích giúp Ban Công an thị trấn đó l à: Phát hiện báo cáo để ngăn chặn , bắt quả tang đối t ư ợng Mai Văn Thành có hành vi tàng trữ pháo nổ và đối t ư ợng Th ành đã đư ợc xử theo quy định. N ên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật h
ình sự để giảm nhẹ một phần h ình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy đ
ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ v ào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm h ình sự của các bị cáo thì thấy rằng: Các bị cáo ch ưa có ti ền án, tiền sự, có nhiều t
ình tiết giảm nhẹ, có n ơi cư trú r õ ràng, sau khi phạm tội tỏ ra ăn năn hối cải, chấp h
ành nghiêm chủ tr ương chính sách Nhà nư ớc đ ư ợc chính quyền địa ph ương xá c nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống x
ã hội m à cho các bị cáo đư ợc h ư ởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo d ục cũng đủ điều kiện các bị cáo tự
cải tạo sau này trở th ành ngư ời công dân tốt và không gây nguy hiểm cho x ã hội, không ảnh h ư ởng xấu đến an ninh, trật tự an to àn xã hội v à cũng ph ù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật h
ình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ
-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị
áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền. Tuy nhi ên các bị cáo l à lao động tự do, thu nhập không ổn định , không có tài sản ri êng. Vì vậy, Hội đồng xét
xử quyết định không áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Số pháo nổ (vật chứng c òn lại sau giám định) thu đ ư ợc của các bị cáo l à vật Nhà nư ớc cấm tàng trữ, lưu hành nên c ần tịch thu ti êu huỷ.
Đối với 02 hộp
hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích th
ư ớc (14,5x14,5x15)cm và 09 vật h ình trụ tr òn thu giữ tại nh à Mai Khắc Đ. Số pháo n ày do Đ mua của ngư ời khác để sử dụng
, không phải mua của G nên Cơ quan đi ều tra Công an huyện Nga S ơn x ử lý theo thẩm quyền.
Đố i với h ành vi mua bán pháo nổ của Mai Khắc
Đ, Mai Đình Kh, Hà Văn Minh, Mai Chấn B chưa đ ủ định l ư ợng theo quy định n ên trong quá trình xác minh, giải quyết C ơ quan CSĐT Công an huy ện Nga S ơn đ ã ra quyết định xử phạt h
ành chính theo quy định của phá p luật.
Đối với b à Hoàng Thị Th (mẹ đẻ G) do không biết việc G cất giấu pháo trong nhà và khi nhận 1.000.000 đồng của
G, G không nói cho bà Thao biết đây l à số tiền có đ ư ợc từ việc bán pháo
, nên không có căn cử để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với ng ư ời đ àn ông bán pháo cho Hoàng Trung H, do H không nhớ mặt và không biết t ên tuổi, địa chỉ n ên không có căn cứ để điều tra xác minh.
Đối với số tiền 2
.200.000 đồng có từ việc
mua bán pháo G đã tiêu xài hết; số tiền 1.000.000 đồ
ng H nhận từ b à Th, H cũng đ ã chi tiêu cá nhân hết. Xét thấy, đây là tiền do phạm tội m à có nên cần tịch thu sung quỹ Nh à Nư ớc của
H 1.000.000đồng , G 2.200.000đồng .
Đối với chiếc điện thoại di động chứ
a sim số 039 9.376.086 của Trần Văn G và chiếc điện thoại di động Nokia 1280 m
àu đen chứa sim số 0972.118.896 của Hoàng Trung H dùng để li ên lạc trao đổi việc mua bán pháo nổ, do cả hai đ
ã làm mất ở đâu , lúc nào không biết, n ên Cơ quan CSĐT Công an huy ện H à Trung đã không thu giữ đ ư ợc v à không có căn cứ để truy tìm số điện thoại của nh
à xe nhận chở pháo cho H và G.
[7]. Các bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố : Bị cáo Trần Văn G và Hoàng Trung H phạm tội “Buôn bán hàng cấm ”.
Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 58; Điều 17; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật h
ình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn G: 18 (Mư ời tám) tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử t hách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trung H: 15 (Mư ời lăm) tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử thách l à 30 (Ba mươi) tháng tính từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.
Giao bị cáo Trần Văn G và bị cáo Hoàng Trung H cho Ủy ban nhân dân x ã Y, huyện H , tỉnh Thanh Hóa giám sát v à giáo dục trong thời gian thử thách.
Trư ờng hợp ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi h
ành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở l ên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng
ư ời đ ư ợc h ư ởng án treo phải chấp h ành hình phạt t ù của bản án đ ã cho hư ởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng
: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h ình sự; điểm a , b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng h
ình sự;
- Tịch thu ti êu huỷ toàn bộ số pháo nổ còn lại sau giám định đư ợc ni êm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự C ông an tỉnh Thanh Hóa. (H iện đang đ ư ợc l ưu giữ tại Chi cục thi h
ành án huyện H à Trung theo biên bản giao nhận ng ày 14/01/2020).
- Truy thu, tịch thu, nộp ngân sách Nh à nư ớc số tiền 2.200.000đồng của
Trần Văn G và 1.000.000đồng của Ho àng Trung H.
3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h
ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo
Trần Văn G và Hoàng Trung H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí h
ình sự s ơ th ẩm.
Trư ờng hợp bản án đ
ư ợc thi h ành theo điều 2 Luật t hi hành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h
ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h
ành án dân sự.
Các bị cáo , ngư ời có quyền l ợi nghĩa vụ li ên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ng ày; đối với G, H và bà Thao kể từ ng ày tuyên án; đối với anh Đ và anh Kh kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc ni êm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện H à Trung; - Công an huyện H à Trung; - Thi hành án HS; dân sự; - Các bị cáo; ng ư ời li ên quan; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI ÊN TÒA (đã ký) Hoàng Ngọc Tuấn |