vanban.org

Bản án 08/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Hữu H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 ( Hai mươi ) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ: Tổ F, phường B, tỉnh Thái Nguyên. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hữu H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Hữu H.
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 08/2026/QĐ-TAThái Nguyên, ngày 02 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Duy Cạn.

2. Thư ký ghi biên bản phiên họp: Ông Lý Sinh Hà – Thẩm tra viên.

Ngày 02/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 08/QĐ-TA ngày 24/3/2026 đối với:

Họ và tên: NGUYỄN HỮU H (Tên gọi khác: Không có);

Sinh ngày 27 tháng 02 năm 1970;

CCCD số: 006070002841; ngày cấp: 09/5/2021 nơi cấp: Bộ C1;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Giới tính: Nam;

Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/10;

Quê quán: xã C, tỉnh Thái Nguyên;

Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên;

Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên;

Tiền án: 01. Tại bản án số 06/2024/HSST ngày 22/3/2024 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nay là TAND khu vực 7 – Thái Nguyên) xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Tiền sự: 01. Tại Quyết định số: 03/QĐ-XPHC, ngày 12/01/2026, bị Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính.

Nhân thân: Tại bản án số 34/2013/HSST, ngày 02/8/2013 bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nay là TAND khu vực 7 – Thái Nguyên) xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. tại bản án số 07/2008/HSST ngày 22/4/2008 bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (Nay là TAND khu vực 7 – Thái Nguyên) xử phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.

Con ông: Nguyễn Hữu L và con bà Hoàng Thị M (Đều đã chết).

Nguyễn Hữu H. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan Công an xã C đề nghị: Ông Nghiêm Văn H1: Chức vụ. Trưởng Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên - Có mặt.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên: Bà Mạc Thị H - Kiểm sát viên - Có mặt.

3. Những người khác: Không có.

NHẬN THẤY:

Ngày 09/01/2026, Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức xét nghiệm kiểm tra chất ma túy đối với Nguyễn Hữu H, sinh năm 1970, trú tại thôn N, xã C, tỉnh Thái Nguyên. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 09/01/2026 của Trạm Y tế xã C, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận Nguyễn Hữu H dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Nguyễn Hữu H đã có lời khai tại cơ quan Công an, bị lập biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 26/02/2026 của Trạm Y tế xã C, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận Nguyễn Hữu H dương tính với chất ma túy trong cơ thể, nhóm O. Nguyễn Hữu H đã có bản tường trình, lời khai tại cơ quan Công an, bị lập biên bản vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 03/3/2026 của Trạm Y tế xã C xác định Nguyễn Hữu H nghiện ma tuý.

Ngày 03/3/2026, Công an xã C đã tiến hành làm việc với Nguyễn Hữu H để thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý của Nguyễn Hữu H và hướng dẫn, giải thích cho Nguyễn Hữu H về các quy định của pháp luật và quy trình đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã C trong thời hạn 05 ngày làm việc.

Ngày 11/3/2026, Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên tiến hành lập hồ sơ và có Thông báo số 285/TB – CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H và Nguyễn Hữu H đã được đọc hồ sơ theo quy định.

Ngày 18/3/2026, Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên có văn bản số: 328/CAXCĐ gửi Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Nguyễn Hữu H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có nơi cư trú ổn định, đã được xác định là người nghiện ma túy và không đăng ký cai nghiện ma túy theo quy định. Vì vậy, Công an xã C đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H với thời hạn từ 12 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên họp, Nguyễn Hữu H trình bày: Đối với việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng quy định nên Nguyễn Hữu H không có ý kiến gì. Nguyễn Hữu H đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mức thấp nhất của cơ quan đề nghị là 12 tháng.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H, hồ sơ đảm bảo đầy đủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách người tham gia phiên họp đúng theo quy định, phiên họp diễn ra đúng quy trình và tuân theo pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H với thời hạn theo đề nghị của Công an xã C từ 12 đến 24 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hữu H được lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính; Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số: 116/2021/NĐ - CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về hành vi vi phạm: Nguyễn Hữu H là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, có nơi cư trú ổn định. Tuy nhiên, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo, Nguyễn Hữu H không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc không đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã C theo quy định. Hành vi của Nguyễn Hữu H đã vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy và quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Nguyễn Hữu H có nhân thân xấu, Nguyễn Hữu H đã bị TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội mua bán trái phép chất ma tuý; Bị Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, Nguyễn Hữu H không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Trong quá trình lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Nguyễn Hữu H đều tự nguyện khai nhận hành vi vi phạm của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ là tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về tính chất, mức độ hành vi vi phạm của Nguyễn Hữu H đã làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước. Do đó cần thiết phải đưa Nguyễn Hữu H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong một khoảng thời gian nhất định.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ Điểm d khoản 2 Điều 6; Khoản 2 Điều 9; Điều 95; Khoản 1 Điều 96; 103; Khoản 2 Điều 104; Khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ – CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy; Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

Căn cứ Khoản 1 Điều 3, Điều 20, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên đối với Nguyễn Hữu H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 ( Hai mươi ) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ: Tổ F, phường B, tỉnh Thái Nguyên.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

Nguyễn Hữu H có quyền khiếu nại trong hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định. Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên và Nguyễn Hữu H có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ