vanban.org

Bản án 08/2025/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1.

1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Bảo H (do bà Nguyễn Thị Ánh L là người trực tiếp lao động) với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011; 2. Điều chỉnh tên Lê Thị Bảo H trên sổ bảo hiểm số 8009032726 trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "vô hiệu hợp đồng lao động"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Lao động; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 08/2025/LĐ-ST
Ngày: 20 – 01 – 2025
V/v “Vô hiệu hợp đồng lao động
và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Lin;

2. Bà Trần Thị Đổi.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 196/2024/TLST – LĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-LĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-LĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bảo H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số H tổ H, ấp D, xã T, huyện B, Tp . (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Công ty TNHH S1; Địa chỉ trụ sở: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: Ông Y (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bảo hiểm xã hội tỉnh L; Địa chỉ trụ sở: Số H T, phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật: ông Trần S – Giám đốc (xin vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Ánh L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp G, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn bà Lê Thị Bảo H trình bày:

Từ tháng 4/2007 đến tháng 6/2023, bà Lê Thị Bảo H làm việc tại Công ty TNHH P, bà có tham gia bảo hiểm với sổ bảo hiểm xã hội số 0207128926.

Do bản thân không am hiểu về pháp luật và muốn giúp đỡ người em gái họ hàng là bà Nguyễn Thị Ánh L có thể đi làm tạo thu nhập lo cho gia đình, nên bà H cho bà L mượn giấy chứng minh nhân dân để bà L đi làm tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 trong khoảng thời gian từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011. Khi bà L mang tên bà H làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 thì bà L cũng tham gia bảo hiểm mang tên Lê Thị Bảo H với sổ bảo hiểm xã hội số 8009032726.

Việc bà cho bà L mượn giấy chứng minh nhân dân là không đúng quy định pháp luật và người thực hiện hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 không phải do bản thân bà H thực hiện. Hiện nay tồn tại hai sổ bảo hiểm xã hội số 0207128926 và số 8009032726 cùng mang tên là Lê Thị Bảo H nên bà H không thể thực hiện việc chốt sổ bảo hiểm được. Do đó bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Vô hiệu hợp đồng lao động được kí kết giữa bà Lê Thị Bảo H (do bà Nguyễn Thị Ánh L làm việc) với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011;

2/ Điều chỉnh tên Lê Thị Bảo H trên sổ bảo hiểm xã hội số 8009032726 từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 thành tên Nguyễn Thị Ánh L.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh L có văn bản trình bày: Bà xác định có mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Lê Thị Bảo H để vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011 và có tham gia bảo hiểm xã hội. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà H và đề nghị giải quyết theo qui định pháp luật. Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh L trình bày: Căn cứ vào hồ sơ, dữ liệu quản lý thu, sổ, thẻ và chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 có tham gia bảo hiểm cho bà Lê Thị Bảo H từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011 với sổ bảo hiểm số 8009032726, bà H đã hưởng chế độ BHXH một lần với số tiền 3.913.632 đồng theo Quyết định số 073012/QĐ-BHXH của BHXH huyện Đ ngày 05/6/2012 và chưa hưởng BHTN với thời gian đóng nêu trên.

Đối với trường hợp mượn hồ sơ của người khác để ký hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc và tham gia BHXH, BHTN và BHYT, thực hiện công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L1, căn cứ vào bản án đã có hiệu lực của Tòa án, BHXH tỉnh L thực hiện theo nội dung Thông báo số 357/TB-TA ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. BHXH tỉnh L không cung cấp được hợp đồng lao động theo đề nghị của Tòa án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án.

Quan điểm Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bảo H về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Bảo H (do bà Nguyễn Thị Ánh L thực hiện) với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 từ tháng 9/2009 đến tháng 5/2011; Điều chỉnh tên Lê Thị Bảo H trên sổ bảo hiểm xã hội số 8009032726 thành tên Nguyễn Thị Ánh L. Bởi vì thực tế bà Lê Thị Bảo H không phải là người lao động mà bà Nguyễn Thị Ánh L mới là người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và Điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 có trụ sở tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.

Bà Lê Thị Bảo H là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và gia công giày Thịnh V là người bị kiện được xác định là bị đơn. Bà Nguyễn Thị Ánh L và Bảo hiểm xã hội tỉnh L được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Thời hiệu khởi kiện: Bà Lê Thị Bảo H khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 vì cho rằng quyền lợi bị xâm phạm do hợp đồng giả tạo nên bà H có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019, Điều 184 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.

Quá trình tố tụng: Chứng cứ bà Lê Thị Bảo H có nộp Bản quá trình đóng bảo hiểm xã hội với sổ BHXH số 0207128926.

Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.

Bộ luật Lao động để áp dụng giải quyết tranh chấp: Các bên tranh chấp hợp đồng lao động trong thời gian từ tháng 9 năm 2009 nên Bộ luật Lao động được áp dụng để giải quyết tranh chấp là Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007). Thời điểm giải quyết tranh chấp thì Bộ luật Lao động năm 2019 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.

Tòa án lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và xét xử vụ án trong phạm vi đương sự yêu cầu.

.Về nội dung:

. Về hợp đồng lao động: Bà Lê Thị Bảo H khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được giao kết giữa bà Lê Thị Bảo H nhưng do bà Nguyễn Thị Ánh L là người trực tiếp lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 là vô hiệu. Tuy nhiên bà Lê Thị Bảo H không cung cấp được hợp đồng lao động do bị thất lạc. Căn cứ vào văn bản của Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 có tham gia bảo hiểm cho bà Lê Thị Bảo H từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011 với sổ bảo hiểm số 8009032726 nên có căn cứ xác định giữa bà Lê Thị Bảo H với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 có giao kết hợp đồng lao động, thời hạn hợp đồng từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011.

. Xét thấy, bà Lê Thị Bảo H có cho bà Nguyễn Thị Ánh L mượn chứng minh nhân dân mang tên Lê Thị Bảo H để xác lập hợp đồng lao động và trực tiếp tham gia lao động, đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 theo sổ BHXH số 8009032726. Trong khi đó bà Lê Thị Bảo H cũng trực tiếp tham gia lao động tại Công ty TNHH P1, bà H có tham gia bảo hiểm với sổ bảo hiểm xã hội số 0207128926.

Như vậy có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011 thì người mang tên Lê Thị Bảo H cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại hai doanh nghiệp là Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 và Công ty TNHH P1.

Do đó, việc bà Nguyễn Thị Ánh L tham gia trực tiếp lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 nhưng ký hợp đồng lao động với tên người lao động là Lê Thị Bảo H là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ Luật Lao động, vi phạm các hành vi bị cấm như gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, BHTN theo quy định tại khoản 4 Điều 17 của Luật BHXH số 58/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014 nên có cơ sở xác định hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Bảo H với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 là không có hiệu lực.

Từ các nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Về hậu quả của hợp đồng lao động bị vô hiệu: Do hợp đồng lao động bị vô hiệu nên sẽ điều chỉnh tên Lê Thị Bảo H trên Sổ bảo hiểm xã hội số 8009032726 trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 thành tên Nguyễn Thị Ánh L.

. Bà Nguyễn Thị Ánh L, Công ty TNHH S1 không có tranh chấp gì trong vụ án nên không đề cập xem xét.

. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

.Về án phí: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Bảo H tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 5, Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 184, Điều 186, Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 4, Điều 30 Bộ luật Lao động năm 1994 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007);

Căn cứ Điều 13, khoản 1 Điều 15; Điều 18, Điều 21, Điều 49, Điều 50, Điều 51 và Điều 190 Bộ Luật Lao động năm 2019;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bảo H về việc: “Tranh chấp yêu cầu vô hiệu hợp đồng lao động và điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội” với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1.

1.1. Vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Lê Thị Bảo H (do bà Nguyễn Thị Ánh L là người trực tiếp lao động) với Công ty trách nhiệm hữu hạn S1 từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011;

1.2. Điều chỉnh tên Lê Thị Bảo H trên sổ bảo hiểm số 8009032726 trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011 thành tên Nguyễn Thị Ánh L.

Bà Lê Thị Bảo H và bà Nguyễn Thị Ánh L được quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh L để điều chỉnh tên trên sổ bảo hiểm xã hội số 8009032726 từ tên Lê Thị Bảo H thành tên Nguyễn Thị Ánh L.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Lê Thị Bảo H tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006244 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà H đã nộp đủ tiền án phí lao động sơ thẩm.

3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ