vanban.org

Bản án 08/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 05/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: các bị cáo Bùi Ngọc Đ.

Xử phạt: các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2025 Xử phạt bị cáo Lê Văn T. 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2025 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc Đức, Lê Văn Tâm, Đoàn Hồ Văn Thành ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Bùi Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HSST
Ngày 05-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH LÂM ĐỒNG

- Th. phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Hồng Vinh

2. Ông Hoàng Văn T.

- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 11 tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: ông Lê Đ. Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 05/8/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 11, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/HSST ngày 27/6/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 14/7/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Ngọc Đ.; Sinh năm: 1990, tại Bình Thuận; Tên gọi khác: Lì; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn Minh Hòa, xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Minh Hòa, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng); Quốc tich: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; con của ông Bùi Ngọc Đ1 – đã chết; con của bà Huỳnh Thị L – sinh năm 1954, nghề nghiệp: Làm nông; Gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ: không có; Con: có 01 người con sinh năm 2016; Tất cả cùng trú thôn Minh Hòa, xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Minh Hòa, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng)

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bắt bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam số 6 – trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh Lâm Đồng. bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đoàn Hồ Văn Th.; Sinh năm: 1996, tại Bình Thuận; không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn M.T, xã H.M, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Minh Hòa, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng); Quốc tich: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; con của bà Đoàn Hồ Thị H. – sinh năm 1973, nghề nghiệp: Làm nông; không rõ cha là ai; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tất cả cùng trú thôn M.T, xã H.M, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Minh Tiến, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bắt bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam số 6 – trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh Lâm Đồng. bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lê Văn T.; Sinh năm: 1996, tại Bình Thuận; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khu phố Lập Hòa, thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (nay là thôn Lập Hòa, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng); Quốc tich: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Trình độ học vấn: 12/12; con của ông Lê Văn M – sinh năm 1970, nghề nghiệp: Làm nông; con của bà Trịnh Như N – sinh năm 1973, nghề nghiệp: Làm nông; Gia đình có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sính năm 2001; Tất cả cùng trú khu phố Lập Hòa, thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (nay là thôn Lập Hòa, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bắt bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2025 cho đến nay tại Phân trại tạm giam số 6 – trại tạm giam số 3 – Công an tỉnh Lâm Đồng. bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phan Văn Ph. – 1975 (vắng mặt); Nơi cư trú: Thôn Minh Tiến, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng.

- Người làm chứng: Trần Thị L. – 1979 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Minh Tiến, xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th., Lê Văn T. bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ 30 ngày 21/4/2025, Bùi Ngọc Đ. gọi điện rủ Đoàn Hồ Văn Th. tới quán Karaoke 168 thuộc thôn M.T, xã H.M, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để hát và sử dụng ma túy. Cả hai thống nhất tiền mua ma túy và tiền hát do Đ. trả trước, khi Th. nhận lương thì trả lại cho Đ. (Đ. và Th. đều làm tại vựa thanh long Hùng Nga, Đ. là quản công nam, còn Th. làm công nam). Lúc này, Đ. lấy điện thoại của mình và sử dụng tài khoản Messenger “Khung Li” gọi cho Lê Văn T. qua tài khoản Messenger “T. Lê” nói “có lấy đồ được không” được hiểu là mua ma túy giúp, thì T. trả lời “có tiền mới lấy được”, Đ. nói “lấy hai chấm khay và hai con kẹo” có nghĩa là 2 gói ma túy loại Ketamine và 2 viên thuốc lắc. Lúc này, T. gọi điện qua ứng dụng Messenger cho người có tài khoản “Nguyen Son” để mua ma túy giúp Đ., thì người này báo giá 2.500.000 đồng. Sau đó, T. gọi lại cho Đ., nói “hết 2.600.000 đồng” và nói Đ. chạy lên Cây xăng Km28 thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam đưa tiền cho T.. Lúc này, Th. điều khiển xe mô tô biển số 86AE-042.28 tới nhà Đ. và chở Đ. tới vựa thanh long Hùng Nga, Đ. vào ứng tiền công được 5.000.000 đồng, rồi Th. tiếp tục chở Đ. lên Cây xăng Km28 đưa tiền cho T. thì T. nói Đ. về quán Karaoke 168 trước, lát sau sẽ mang ma túy tới cho Đ.. Đ. và Th. đi về quán Karaoke 168, gặp Phan Văn Ph. (sinh năm 1975, trú thôn M.T, xã H.M) là chủ quán Karaoke 168, Phúc hướng dẫn cho Đ. và Th. vào phòng số 5. Đ. nói Th. đi mua 01 đĩa sứ mang về phòng Karaoke và gọi Trần Thị L. (sinh năm 1979, trú thôn M.T, xã H.M) là nhân viên quán Karaoke vào phòng số 5 phục vụ. Khi T. lấy được tiền thì liên hệ với “Nguyen Son” để lấy ma túy. T. đi đến gần tiệm Internet Phong Hoàng ở khu phố Lập Vinh, thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam thì gặp một thanh niên, người này đưa ma túy cho T., T. đưa tiền cho người này và mang ma túy tới Phòng số 5 Karaoke 168 cho Đ.. Đ. cầm 02 gói Ketamine và 01 gói bên trong có 02 viên thuốc lắc đưa lại cho Th. để Th. đổ 01 gói Ketamine và 02 viên thuốc lắc ra đĩa sứ. Sau đó, Đ. và Th. mỗi người sử dụng 01 viên thuốc lắc. Tiếp đến, Đ. đưa cho Th. 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng để Th. quấn Th. ống, Th. lấy thẻ Ngân hàng BIDV mang tên DOAN HO VAN THANH để cà Ketamine Th. đường rồi dùng tờ tiền được quấn Th. ống để hít. Cả hai sử dụng được một lúc thì Đ. đi vào nhà vệ sinh cất gói Ketamine còn lại vào phía sau giấy dán tường với mục đích để lần sau sử dụng tiếp. Đ. quay ra hát karaoke với Th. đến khoảng 14 giờ 10 cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Hàm Minh và bắt quả tang. Quá trình sử dụng ma túy trong phòng Karaoke thì Loan không sử dụng ma túy và không biết Th., Đ. sử dụng ma túy trong phòng Karaoke. (Bút lục: 85-87, 133-144, 156-165, 173-181, 117-121)

Ngay sau khi bắt quả tang Bùi Ngọc Đ. và Đoàn Hồ Văn Th. về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Bùi Ngọc Đ. và Đoàn Hồ Văn Th.. Kết quả cả hai đều dương tính với các chất ma túy Methamphetamine (Ma túy đá), MDMA (Ma túy tổng hợp), Ketamine (thuốc lắc). (Bút lục: 130-131, 152-154)

Tang vật tạm giữ: (Bút lục: 85-92)

- 01 đĩa sứ màu trắng, có nền hoa văn màu xanh, trên đĩa sứ có chất bột màu trắng, Công an xã đã thu giữ số bột màu trắng và cho vào 01 gói nylon niêm phong (Ký hiệu NS4), kích thước (14x10)cm;

- 01 ống hút được quấn từ tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng;

- 01 thẻ ngân hàng BIDV màu xanh, số 9704187327013417589 tên DOAN HO VAN THANH;

- 01 gói nylon kích thước (2x2,4)cm được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (thu giữ trong nhà vệ sinh tại phòng số 5 của quán Karaoke 168);

- 01 điện thoại di động OPPO, số IMEI 1: 684738049620172, IMEI 2: 684738049620164 bên trong có sim số 0528.225.483 thu giữ của Bùi Ngọc Đ.;

- 01 điện thoại di động VSMART, số IMEI 1: 355173111297137, IMEI 2: 355173111297145 bên trong có sim số 0969.040.732 thu giữ của Đoàn Hồ Văn Th.;

- 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI 353541322518735, bên trong có sim số 0898.359.018. Màn hình góc trên bên trái, lớp kính mặt sau vỡ;

- 01 xe mô tô Honda Future biển số 86AE-042.28 và giấy đăng ký xe của Đoàn Hồ Văn Th..

Tại bản kết kết luận giám định số 405/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: chất tinh thể màu trắng có trong gói nylon kích thước (2x2,4cm) được hàn kín (Ký hiệu M1) nêu trên có khối lượng 0,5147 gam là Ketamine; bột màu trắng trong 01 gói nylon niêm phong (Ký hiệu NS4), kích thước (14x10)cm (Ký hiệu M2) nêu trên có khối lượng 0,2055 gam là Ketamine. Tổng khối lượng 0,7202 gam là Ketamine. (Bút lục: 113-115)

Về vật chứng: 01 đĩa sứ màu trắng, có nền hoa văn màu xanh; 01 thẻ ngân hàng BIDV màu xanh, số 9704187327013417589 tên DOAN HO VAN THANH; 01 gói nylon kích thước (2x2,4)cm cùng 0,4960 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon niêm phong (Ký hiệu NS4), kích thước (14x10)cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,1811 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ống hút được quấn từ tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO, số IMEI 1: 864738049620172, IMEI 2: 864738049620164 bên trong có sim số 0528.225.483 thu giữ của Bùi Ngọc Đ.; 01 điện thoại di động VSMART, số IMEI 1: 355173111297137, IMEI 2: 355173111297145 bên trong có sim số 0969.040.732 thu giữ của Đoàn Hồ Văn Th.; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI 353541322518735, bên trong có sim số 0898.359.018. Màn hình góc trên bên trái và lớp kính mặt sau bị vỡ; 01 xe mô tô Honda Future biển số 86AE-042.28 và giấy đăng ký xe của Đoàn Hồ Văn Th. đã được chuyển đến kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự .

Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 24/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam truy tố các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Văn T. về tội: “mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11 – tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp Dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Bùi Ngọc Đ. từ 2 đến 3 năm tù

Áp Dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Đoàn Hồ Văn Th. từ 2 đến 3 năm tù

Tuyên bố: bị cáo Lê Văn T. phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”

Áp Dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lê Văn T. từ 2 đến 3 năm tù Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 đĩa sứ màu trắng, có nền hoa văn màu xanh; 01 thẻ ngân hàng BIDV màu xanh, số 9704187327013417589 tên DOAN HO VAN THANH; 01 gói nylon kích thước (2x2,4)cm cùng 0,4960 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon niêm phong (Ký hiệu NS4), kích thước (14x10)cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,1811 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, sim số 0969.040.732, 0898.359.018, 0528.225.483.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 ống hút được quấn từ tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO, số IMEI 1: 864738049620172, IMEI 2: 864738049620164 thu giữ của Bùi Ngọc Đ.; 01 điện thoại di động VSMART, số IMEI 1: 355173111297137, IMEI 2: 355173111297145 thu giữ của Đoàn Hồ Văn Th.; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI 353541322518735. Màn hình góc trên bên trái và lớp kính mặt sau bị vỡ; 01 xe mô tô Honda Future biển số 86AE-042.28 và giấy đăng ký xe của Đoàn Hồ Văn Th.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 3.000.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bị cáo T. bán ma túy cho bị cáo Đ..

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã mô tả, thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 11), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về tội danh của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th., Lê Văn T. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận này phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ; phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, do đó đã đủ cơ sở xác định:

Vào trưa ngày 21/4/2025, Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. đã thỏa thuận góp tiền để mua ma túy về quán Karaoke 168 ở thôn M.T, xã H.M, huyện Hàm Thuận Nam sử dụng. Sau đó, Đ. là người đã trực tiếp liên hệ và mua 2.600.000 đồng ma túy của Lê Văn T.. Sau khi mua được ma túy, Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. đã cùng nhau làm dụng và cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy ại phòng số 5 Karaoke 168 rồi bị bắt quả tang cùng với 0,7202 gam Ketamine còn lại.

Hành vi bán ma túy 01 lần của Lê Văn T. cho Bùi Ngọc Đ. đã đủ yếu tố cấu Th. tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. là những người cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để cả hai cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này của Đ. và Th. đã đủ yếu tố cấu Th. tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt: các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th., Lê Văn T. là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của việc mua bán trái phép và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Do các bị cáo phạm tội đều là lần đầu và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền làm hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều Th. khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà các bị cáo được hưởng.

Bị cáo Bùi Ngọc Đ. được chính quyền địa phương xác nhận là có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 đĩa sứ màu trắng, có nền hoa văn màu xanh; 01 thẻ ngân hàng BIDV màu xanh, số 9704187327013417589 tên DOAN HO VAN THANH; 01 gói nylon kích thước (2x2,4)cm cùng 0,4960 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/1, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon niêm phong (Ký hiệu NS4), kích thước (14x10)cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,1811 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/2, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; sim số 0969.040.732, 0898.359.018, 0528.225.483; là những tang vật không có giá trị sử dụng và cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 ống hút được quấn từ tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng; 01 điện thoại di động OPPO, số IMEI 1: 864738049620172, IMEI 2: 864738049620164 thu giữ của Bùi Ngọc Đ.; 01 điện thoại di động VSMART, số IMEI 1: 355173111297137, IMEI 2: 355173111297145 thu giữ của Đoàn Hồ Văn Th.; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI 353541322518735. Màn hình góc trên bên trái và lớp kính mặt sau bị vỡ; 01 xe mô tô Honda Future biển số 86AE-042.28 và giấy đăng ký xe của Đoàn Hồ Văn Th. là các công cụ thực hiện hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu lợi bất chính từ việc T. bán ma túy cho Đ., cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Ngọc Đ..

- Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đoàn Hồ Văn Th.

- Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn T.

Tuyên bố: các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T., phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th. mỗi bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2025

Xử phạt bị cáo Lê Văn T. 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2025

[2] căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2.1] Tịch thu tiêu hủy đối với:

- 01 (một) đĩa sứ màu trắng, có nền hoa văn màu xanh;

- 01 (một) thẻ ngân hàng BIDV (màu xanh) số: 9704187327013417589 tên DOAN HO VAN THANH.

- 01 (một) gói nylong kính thước (2x2,4)cm cùng 0,4960 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/1, có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận;

- 01 (một) gói nylong niêm phong (Ký hiệu NS4), kính thước (14x10)cm đã cắt lấy mẫu cùng 0,1811 gam Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 405/2, có chữ ký của Giám định viên Đinh Trung Hiều và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận;

- sim số 0969.040.732, 0898.359.018, 0528.225.483.

[2.2] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với:

- 01 (một) ống hút được quấn từ tờ tiền polyme loại mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu OPPO, số IMEI 1: 864738049620172, IMEI 2: 864738049620164, được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng (đánh số 5) kích thước khoảng (18x12)cm, trên phong bì có dòng chữ "Công an huyện Hàm Thuận Nam", "Công an xã Hàm Minh", có chữ ký của Bùi Văn Sự, Trần QuangHuy, Đỗ Tuy Phong, Bùi Ngọc Đ. và có hình tròn màu đỏ của Công an xã Hàm Minh;

- 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu VSMART, số IMEI 1: 355173111297137, IMEI 2: 355173111297145, được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng (đánh số 3), kích thước khoảng (18x12)cm, trên phong bì có dòng chữ "Công an huyện Hàm Thuận Nam", "Công an xã Hàm Minh", có chữ ký của Bùi Văn Sự, Trần Quang Huy, Đỗ Tuy Phong và Đoàn Hồ Văn Th. và dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã Hàm Minh;

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI: 353541322518735; màn hình góc trên bên trái và lớp kính mặt sau bị vỡ, được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng (đánh số 4), kích thước khoảng (18x12)cm, trên phong bì có dòng chữ "Công an huyện Hàm Thuận Nam", "Công an xã Hàm Minh", có chữ ký của Bùi Văn Sự, Trần Quang Huy, Đỗ Tuy Phong và Lê Văn T. và dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã Hàm Minh;

- 01 (một) xe Mô tô hiệu Honda Future màu xanh đen, biển số: 86AE-042.28, số khung xe: RLHJC7673R Y070017; số máy: JC98E0079989;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe hiệu Honda Future (bản chính) số: 86 004004 của ông Đoàn Hồ Văn Th., địa chỉ: Thôn M.T, xã H.M, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, biển số đăng ký xe số 86AE-042.28 cấp ngày 15/01/2025.

Tất cả vật chứng hiện đang được bảo quản tại phòng Thi hành án Dân sự Khu Vực 11 – Lâm Đồng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/8/2025.

- buộc bị cáo Lê Văn T. nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 3.000.000 đồng thu lợi bất chính từ việc T. bán ma túy cho Đ..

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th., Lê Văn T. mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Bùi Ngọc Đ., Đoàn Hồ Văn Th., Lê Văn T., báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ