vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đình T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 10-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Hoà và bà Nguyễn Thị Thuý Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 284/2024/TLST-HS ngày 25/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HS ngày 25/12/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình T, sinh ngày 24/11/1997 tại thành phố Q, tỉnh B; Nơi cư trú: Phường N, thành phố Q, tỉnh B; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Quang A, sinh năm: 1974 và bà: Trần Thị Hoa S, sinh năm: 1971; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/5/2014, bị TAND thành phố Quy Nhơn xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 10/7/2014; Ngày 19/9/2014, bị TAND huyện Phù Mỹ xử phạt 12 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 13/01/2016; Ngày 28/6/2016, bị TAND thành phố Quy Nhơn xử phạt 15 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 07/6/2017; Ngày 07/9/2020, bị TAND thành phố Quy Nhơn xử phạt 18 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong ngày 25/8/2021; Bị cáo ra đầu thú ngày 18/07/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1990 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

Địa chỉ: Phường N, thành phố Q, tỉnh B

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1974 “vắng mặt”

Địa chỉ: 123 H, thành phố Q, tỉnh B.

2. Anh Trần Quang V, sinh năm: 1979 “vắng mặt”

Địa chỉ: 176 N, phường N, thành phố Q, tỉnh B

- Người làm chứng:

Bà Trần Thị Hoa S, sinh năm: 1971 “có mặt”

Địa chỉ: Phường N, thành phố Q, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 16/7/2024, Lê Đình T đi bộ từ Quảng trường Nguyễn Tất N, thành phố Q dạo tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Khoảng 02 giờ cùng ngày, T đi vào hẻm 220 H, phường N, thành phố Q, khi đến trước nhà anh Nguyễn Văn M, T quan sát thấy cửa trên tầng 2 không đóng (loại cửa gỗ 02 cánh, vẫn còn mở 01 cánh). T trèo lên trụ phía trước nhà, lên tầng 2 rồi đột nhập vào trong nhà. Lúc này, T phát hiện máy tính bảng Ipad (Thế hệ 6, số máy: MR6P2J/2, số sê – ri: DMPZ5GKYJF8D; Có gắn ốp lưng màu đỏ) của anh M để ở phòng ngoài tầng 2 nên lấy ipad này. T đi tiếp vào phòng ngủ ở tầng 02, thấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 5 (Màu xanh, bộ nhớ 128GB, số Imei: 865545058201235) của anh M đang cắm sạc ở đầu giường nên rút sạc, chiếm đoạt điện thoại OPPO Reno 5 này. Lấy xong, T tiếp tục đi xuống tầng 01, thấy điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 (Màu xanh, số Imei: 355355/06/501327/1) của anh M đang để trên kệ tivi ở phòng khách tầng 01 nên tiếp tục chiếm đoạt. Sau đó, T cầm ipad và 02 điện thoại trộm cắp được đi lên tầng 02 rồi trèo ra ngoài (theo đường đã đột nhập). T mang tài sản trộm cắp được về nhà tại Phường N, thành phố Q cất giấu. Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 16/7/2024, T gọi điện cho Nguyễn Văn B (Chủ cửa hàng điện thoại “Miền Trung” địa chỉ 123 H, thành phố Q hỏi có thu mua điện thoại không. Khoảng 05 giờ 15 phút cùng ngày, T mang ipad và 02 điện thoại di động đã trộm cắp đến cửa hàng điện thoại “Miền Trung” gặp B để bán. B kiểm tra điện thoại, Ipad rồi báo giá cho 02 điện thoại và Ipad này là 2.600.000 đồng thì T đồng ý bán. Sau khi bán xong, T cầm tiền đến cửa hàng điện thoại “Quang Việt Mobile” địa chỉ 176 N, Phường N, thành phố Q dùng 1.500.000 đồng chuộc lại điện thoại di động OPPO A76 mà T đã cầm trước đó, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.

Sáng ngày 16/7/2024, anh M ngủ dậy, phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an Phường Ngô Mây trình báo sự việc. Khoảng 17h00’ cùng ngày, T nghe thông tin anh M đã trình báo Công an nên quay lại cửa hàng điện thoại “Miền Trung” xin chuộc lại Ipad và 02 điện thoại trên rồi mang đến trả lại cho anh M. Đến sáng ngày 18/7/2024, T đến Công an Phường Ngô Mây đầu thú.

Ngày 08/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quy Nhơn kết luận:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, màu xanh, bộ nhớ 128GB, số Imei: 865545058201235, phía sau lưng điện thoại có nhiều vết nứt, đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu xanh, số Imei: 355355/06/501327/1, trên màn hình phía dưới góc bên trái bị vết rạn nứt, đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 700.000 đồng.

- 01 Ipad, thế hệ 6, số máy: MR6P2J/A, số sê - ri: DMPZ5GKYJF8D, màu trắng, đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 5.600.000 đồng.

- 01 ốp lưng của Ipad, màu đỏ, kích thước (23,5x35)m, đã qua sử dụng có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 30.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.830.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Quy Nhơn đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, màu xanh, phía sau lưng điện thoại có nhiều vết nứt, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, màu xanh, trên màn hình phía dưới góc bên trái bị vết rạn nứt, đã qua sử dụng; 01 Ipad, thế hệ 6, số máy: MR6P2J/A, số sê - ri: DMPZ5GKYJF8D, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 ốp lưng của Ipad, màu đỏ, có kích thước (23,5x35) cm, đã qua sử dụng; 03 đĩa DVD lưu trữ 03 đoạn video camera quay lại nội dung vụ án (lưu vào hồ sơ vụ án).

Ngày 24/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Quy Nhơn đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7; 01 Ipad, thế hệ 6; 01 ốp lưng của Ipad trên cho Nguyễn Văn M.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Văn M đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu gì thêm.

- Tại bản Cáo trạng số 279/CT-VKSQN ngày 22/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Đình T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình T từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Lê Đình T thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Đình T là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đã từng bị Toà án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải biết tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và cần xử lý nghiêm minh, nhưng do có ý thức xem thường pháp luật, tham lam, muốn có tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại Nguyễn Văn M khi đi ngủ không đóng cửa tầng 2, bị cáo đã đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn M tại địa chỉ 220 H, phường N, thành phố Q lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5, đã qua sử dụng trị giá 1.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7, đã qua sử dụng trị giá 700.000 đồng, 01 Ipad thế hệ 6 trị giá 5.600.000 đồng, 01 ốp lưng Ipad trị giá 30.000 đồng vào rạng sáng ngày 16/07/2024. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.830.000 đồng, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Bị cáo có nhân thân xấu.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, sau khi phạm tội bị cáo đã tự chuộc lại tài sản trộm cắp mang đến trả lại cho bị hại để khắc phục hậu quả do mình gây ra và đến cơ quan Công an xin đầu thú thể hiện bị cáo có sự ăn năn hối cải, đồng thời bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử cũng xem xét xử phạt bị cáo một mức án có lý có tình để bị cáo an tâm cải tạo tốt, sớm tái hoà nhập cộng đồng.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Nguyễn Văn M đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Văn B mua điện thoại và ipad từ bị cáo với giá 2.600.000 đồng, bị cáo đã mua lại 02 tài sản này từ anh B, anh B không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn đang thu giữ 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh về vụ trộm, đây là chứng cứ của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn B có hành vi mua ipad và điện thoại do Lê Đình T mang đến bán nhưng không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nên không phạm tội.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tại phiên toà phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đình T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ