vanban.org

Bản án 08/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nay B 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025. Bị cáo Rah Lan H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nay B, cùng đồng phạm phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/HS-ST
Ngày: 21/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông: Nay Phen.

- Bà: Trịnh Thị Thanh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay Uy- Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12

- Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 04/8/2025 đối với các bị cáo:

1. Nay B, sinh ngày:13/5/1989, tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn Plơi T xã Ia T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Ja Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Siu Bom, sinh năm 1962 và bà: Nay H’ Lep, sinh năm 1966; vợ: Siu H’B, sinh năm1986; vợ chồng bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm: 2014, nhỏ sinh năm: 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực Ia P, tỉnh Gia Lai từ ngày 03/01/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Rah Lan H, sinh ngày: 01/01/2003, tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn Plơi H’B, xã Ia T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Ja Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ksor Tuet, sinh năm 1980 và bà: Rah Lan H’ Nhơn, sinh năm 1983; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực Ia P, tỉnh Gia Lai từ ngày 03/01/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Ksor N, sinh ngày:18/4/1998, tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Thôn Plơi H’B, xã Ia T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Ja Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nay Teng (đã chết); và bà: Ksor H’ Nhan, sinh năm 1952; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực Ia P, tỉnh Gia Lai từ ngày 03/01/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho các bị cáo Nay B, Rah Lan H, Ksor N: Bà Ngô Thị Vân - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Pleiku. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Ksor H’Ơ, sinh năm: 1990

Trú tại: Thôn Plơi H’B, xã Ia T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Chị Siu H’B, sinh năm: 1986

Trú tại: Plơi T xã Ia T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu Hiếu

Địa chỉ: Tổ 9, phường Ayun P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 03/01/2025, Nay B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81L1- 175.59 đi từ nhà ra thị xã Ayun P, khi đi đến đoạn ngã ba cây xoài thuộc phường Cheo R, thị xã Ayun P, B dừng xe nghe điện thoại thì có 01 thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đeo khẩu trang, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu EXCITER (không rõ biển kiểm soát) đi đến chỗ B nói chuyện và gạ gẫm bán ma túy cho B. Do bản thân trước đây đã sử dụng ma túy nên khi nghe người thanh niên nói bán ma túy thì B đồng ý mua 01 đoạn ống nhựa màu trắng (dạng nilon) bên trong có chứa chất ma túy với giá 600.000 đồng, sau khi mua B cầm ma túy trên tay phải và điều khiển xe mô tô đi về nhà tại Plơi T xã Ia K, huyện Ia P. Tới nhà, B để ma túy vào bao thuốc lá cất giấu trong túi áo lạnh mặc trên người.

Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi B đang ở nhà thì người thanh niên tên Th (là bạn của B, chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mang rượu đến nhà B rồi cả hai ngồi nhậu. B và Th nhậu được khoảng 30 phút thì Rah Lan H nhắn tin qua Messenger cho B với nội dung “Alo”. Thấy vậy, B dùng điện thoại hiệu Vivo, màu xanh dương gọi lại cho H nói H qua nhà B nhậu. Do muốn sử dụng ma túy và biết H có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên B nói H mang theo “nồi”, tức là bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì H đồng ý. Lúc này, Ksor N đang ở nhà của H nên H rủ N đi cùng, khi đi H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm 01 hộp nhựa, 01 chai nhựa, 01 ống thủy tinh, 01 ống hút và 01 quẹt gas tất cả đựng trong 01 bì nilon rồi đưa cho N cầm, N hỏi: “cái gì đây”. H nói: “đây là bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang theo qua nhà B để sử dụng ma túy”, nghe vậy N cầm và không hỏi gì thêm. Rah Lan H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34K8 - 8837 chở N đến nhà B. Tới nơi, H đi lên nhà sàn của B trước còn N cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy theo sau, khi lên nhà sàn thì B, H, N và Th ngồi uống rượu với nhau, trong lúc ngồi uống rượu B nói: “Mới cắm cà vẹt xe mô tô để mua ma túy, ai sử dụng thì phải góp mỗi người 100.000 đồng” (mục đích là để có tiền chuộc lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do B cầm đồ trước đó). Nghe vậy, H và N đồng ý, còn Th ngồi bấm điện thoại, không nói gì. Do trong người chỉ có 50.000 đồng nên N đưa trước cho B số tiền 50.000 đồng, còn lại sẽ đưa sau, H nói ngày mai (tức ngày 04/01/2025) H sẽ đưa đủ cho B là 150.000 đồng cho cả phần N còn thiếu. Sau đó Ksor N lấy bì nilon đựng dụng cụ sử dụng ma túy và mở lấy dụng cụ ra, H lắp 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa vào chai nhựa để làm bộ dụng cụ sử dụng ma túy, còn B lấy kéo cắt 01 đầu của đoạn ống nhựa chứa ma túy mà B mua trước đó rồi đổ 01 phần lượng ma túy vào ống thủy tinh để sử dụng trước, phần còn lại B lấy quẹt gas hơ nóng 01 đầu đã cắt, dán lại cất trong gói thuốc lá hiệu “GOLDEN EAGLE”, màu trắng đen để sau khi nhậu xong sẽ cùng H và N sử dụng tiếp, lúc này người tên Th bỏ đi xuống nhà sàn. Sau khi đổ ma túy vào ống thủy tinh xong, B dùng tay trái cầm chai nước có gắn ống hút và ống thủy tinh lên, tay phải cầm quẹt gas châm lửa hơ nóng ma túy trong ống thủy tinh để hút ma túy bị đốt cháy. B tự châm lửa cho mình sử dụng trước, rồi B châm lửa cho H và N sử dụng.

Vào lúc 23 giờ 20 cùng ngày, trong lúc B, H, N đang sử dụng (hút) ma túy thì lực lượng Công an huyện Ia P ập vào bắt quả tang đối với Nay B, Rah Lan H và Ksor N, tiến hành kiểm tra trên người B phát hiện và thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên phải 01 gói thuốc lá hiệu “GOLDEN EAGLE”, màu trắng đen bên trong có chứa 01 đoạn ống nhựa màu trắng (dạng nilon) hàn kín hai đầu, tiến hành niêm phong, ghi ký hiệu “A1”, kiểm tra tại túi quần phía trước bên trái phát hiện số tiền 758.000 đồng, đã tiến hành niêm phong; kiểm tra trong người của H và N không phát hiện thấy đồ vật gì. Tại hiện trường Công an huyện phát hiện lập biên bản tạm giữ các đồ vật, gồm: 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng (dạng nilon) một đầu kín, một đầu hở, dài 1,5cm, rộng 0,4cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, tiến hành niêm phong, ghi ký hiệu “A2”; 01 (một) ống thủy tinh dài 05cm, đường kính 0,6cm, một đầu uốn cong và bị bể vỡ, bên trong có bám dính chất màu trắng, tiến hành niêm phong, ghi ký hiếu “A3”; 01 (một) kéo bằng kim loại, dài 10,5cm, mũi nhọn; 01 (một) quẹt gas màu vàng kích thước (8x2,4x1)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng số “6944919513128”; 01 (một) quẹt gas đã bị tháo rời phần đầu và gắn thêm ống kim loại hình trụ tròn đường kính 0,2cm, kích thước quẹt là (9,6x2x1,5)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng chữ “HOA VIỆT”; 01 (một) hộp nhựa trong suốt có dạng hình hộp chữ nhật (không có nắp đậy), kích thước (11,7x10x8)cm; 01 (một) bì nilon trong suốt, dạng túi xách; 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 18cm, đường kính 0,4cm; 01 (một) chai nhựa trong suốt cao 15cm, đường kính đáy chai 05cm, nắp chai bằng nhựa màu trắng có đường kính 2,9cm, trên nắp có lỗ hở đường kính 0,6cm, trên thân chai có lỗ hở đường kính 0,4cm, bên trong chai có nước trong suốt.

Ngày 04/01/2025, Cơ quan chức năng tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả: Nay B, Rah Lan H và Ksor N dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine (ma túy đá).

Tại bản kết luận giám định số 113/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận:

- Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) đoạn ống nhựa (nilon) được niêm phong trong bì công văn, ghi “A1” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0685 gam.

- Chất rắn màu trắng bám dính trong 01 (một) mảnh nhựa (đoạn ống nhựa, một đầu hở), kích thước (0,4x1,5)cm, được niêm phong trong bì công văn, ghi “A2” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) là ma túy, loại Methamphetamine, không cân được khối lượng do lượng chất bám dính ít.

- Đoạn ống thủy tinh (uốn cong) được niêm phong trong bì công văn, ghi “A3” (mô tả tại mục Mẫu cần giám định) không phát hiện bám dính chất ma túy thường gặp.

Tại Bản Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 11/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai truy tố các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai đề nghị:

Tuyên bố các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rah Lan H và Ksor N.

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nay B từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

Bị cáo Rah Lan H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

Bị cáo Ksor N từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều làm nông, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị. Truy thu của Rah Lan H số tiền 150.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

* Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 (một) kéo bằng kim loại màu trắng sáng, dài 10,5cm, mũi nhọn, đã qua sử dung.

- 01 (một) quẹt gas màu vàng kích thước (8x2,4x1)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng số “6944919513128”, tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (một) quẹt gas đã bị tháo rời phần đầu và gắn thêm ống kim loại hình trụtròn đường kính 0,2cm, kích thước quẹt là (9,6x2x1,5)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng chữ “HOA VIỆT”, đã qua sử dụng.

- 01 (một) vỏ hộp thuốc lá hiệu “GOLDEN EAGLE”, màu trắng đen,kích thước (8,8x5,5x2,3)cm, tình trạng đã qua sử dụng.- 01 (một) hộp nhựa trong suốt có dạng hình hộp chữ nhật (không có nắp đậy), kích thước (11,7x10x8)cm, đã qua sử dụng.

- 01 (một) bì nilon trong suốt, dạng túi xách, tình trạng đã qua sử dung.

- 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 18cm,đường kính 0,4cm,tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (một) chai nhua trong suốt cao 15cm, đuờng kính đáy chai 05cm,nắp chai bằng nhựa màu trắng có đường kính 2,9cm, trên nắp có lỗ hở đường kính 0,6cm, trên thân chai có lỗ hở đường kính 0,4cm, bên trong chai có nuớc trong suốt,tình trang đã qua sử dụng.

- 0,0685 gam chất màu trắng dạng tỉnh thể (loại Methamphetamine) thuộc doạn ống nhựa trong bì công văn ghi “Al” được bỏ trong một gói nilion cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì công văn có ký hiệu Al có dòng chữ “sô113/PC ngày 10 tháng 01năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công vǎn có dóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hảo.

- 01 mảnh nhựa (đoạn ống nhựa, một đầu hở, một đầu kín) màu trắng (dài 1,5cm, rộng 0,4cm) cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì công văn có kýhiệu A2 có dòng chữ“số 113/PC ngày 10 tháng 01 năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hão.

- 01 đoạn ống thủy tinh, uốn cong (dài 5cm, rộng 0,6cm cùng vỏ bao gói duợc niêm phong trong bì công văn có ký hiệu A3 có dòng chữ “số 113/PC ngày 10tháng 01 năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hảo.

Đối với 01(một) điện thoại di động Vivo màu xanh dương, số IMEI 1:864588049206054,số IMEI 2:864588049206047,bên trong có gǎn sim số 0856357682 (trên thé sim có ghi 898402000 vinaphone 11601614348) và sim số 0392643857 (trên thé sim có ghi 8984048000040057431), tình trạng đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong bị cáo Nay B đã sử dụng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Số tiền 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng là tiền bị cáo Ksor N góp tiền cho bị cáo Nay B đã mua ma tuý nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiêm soát 81L1-175.59, só khung RLHJA3857PY239558, số máy JA52E-0613152, màu sơn đen, tình trạng đã qua sử dụng. 01 (một) Çhứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 81005174, tên chú xe Nay B, biển số đǎng ký 81L1-17559 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Nay B và chị Siu H’B. Nay B điều khiển xe mô tô đi mua ma tuý để mang về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chị Siu H’B hoàn toàn không biết, nên trả lại cho chị Siu H’B.

- Số tiền 708.000 (Bảy trăm lẻ tám nghìn) đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nay B.

Đối với các đồ vật đã tạm giữ nhưng qua điều tra xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Ksor H’Ơ (sinh năm 1990, cư trú Plơi H’B, xã Ia K, huyện Ia P, tỉnh Gia Lai), gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh dương, số IMEI 1: 350765958887121/01, số IMEI 2: 350765958887126/01, bên trong không có sim, tình trạng đã qua sử dụng và 01 (một) xe mô tô biển số 34K8-8837,

số

khung

VLKPCH0221K

*062536,

số

máy VLK7S1P50FMH*00062538*, màu sơn đen, tình trạng đã qua sử dụng. Đây là tài sản thuộc sở hữu của chị H’Ơ, việc ngày 02/01/2025 Rah Lan H mượn sử dụng điện thoại liên lạc và điều khiển xe mô tô đi đến nhà Nay B để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chị H’Ơ hoàn toàn không biết, nên trả lại cho chị H’Ơ là đúng quy định của pháp luật,

* Về án phí: Buộc các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N: Đều nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất như Viện kiểm sát đề nghị.

Riêng về đề nghị truy thu của Rah Lan H số tiền 150.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước và tịch thu số tiền 50.000 đồng là tiền bị cáo Ksor N góp cho Nay B, người bào chữa cho các bị cáo đề nghị không truy thu của Rah Lan H số tiền 150.000 đồng, không tịch thu của số tiền 50.000 đồng của Nay B.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Siu H’B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho chị 01 (một) xe mô tô biển kiêm soát 81L1-175.59.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như bản kết luận giám định chất ma tuý. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 03/01/2025, tại khu vực ngã ba cây xoài thuộc thị xã Ayun P, tỉnh Gia Lai, Nay B mua 01 đoạn ống nhựa màu trắng (dạng nilon) bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine từ 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 600.000 đồng, mục đích là để sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, do muốn sử dụng ma túy nên B gọi điện cho Rah Lan H nói H mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến nhà B thì H đồng ý, khi đi H rủ N cùng đi và đưa bộ dụng cụ cho N cầm rồi cả hai đi đến nhà B. Tại đây, Nay B, Rah Lan H và Ksor N có hành vi cung cấp ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây nguy hại cho sức khoẻ, là nguyên nhân dễ phát sinh ra các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi của các bị cáo đã thực hiện.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng ở hình thức giản đơn, các bị cáo đều cùng cố ý thực hiện một tội phạm, vai trò, tính chất, mức độ tham gia của các bị cáo được thể hiện như sau:

Đối với Nay B là ngưởi khởi xướng, rủ rê, mua ma tuý, cung cấp ma tuý, địa điểm là nhà của mình, dụng cụ sử dụng ma túy, khi tổ chức sử dụng ma túy, B là người đổ ma túy vào ống thủy tinh rồi châm lửa hơ nóng ống thủy tinh hút ma túy trước, sau đó lần lượt cho H và N hút, B đã tổ chức cho 02 người là H và N sử dụng trái phép chất ma túy. Nên B phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này.

Đối với Rah Lan H là người khi được B gọi điện rủ rê tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và dặn mang theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì đã đồng ý và lấy bộ dụng cụ đưa cho N cầm, khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, H là người đã lắp bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cho B đổ ma túy vào ống thủy tinh để các bị cáo cùng nhau sử dụng, H đã tổ chức cho 02 người là B và N sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Ksor N là người trực tiếp mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy đi đến nhà B, khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, N đã lấy bộ dụng cụ ra để cho H lắp rồi B đổ ma túy vào ống thủy tinh để các bị cáo cùng nhau sử dụng, N đã tổ chức cho 02 người là B và H sử dụng trái phép chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Rah Lan H và Ksor N có trình độ học vấn thấp (01/12), nhận thức về pháp luật còn hạn chế, vì vậy áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này có người tên Th (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và người thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy, loại methamphetamine cho Nay B, theo lời khai của các bị cáo thì Th không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng các bị cáo, khi bị bắt quả tang thì trước đó Th đã bỏ đi, không có mặt tại hiện trường. Còn người thanh niên bán ma túy cho B, B khai người này lúc bán ma túy cho B thì đang đeo khẩu trang, B gặp lần đầu và không biết nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm, tiến hành xác minh nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi trước khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nay B yêu cầu Rah Lan H và Ksor N góp mỗi người 100.000 đồng để trả tiền B đã mua ma túy, B không có mục đích mua bán ma túy cho H và N để kiểm lời. Do đó, hành vi trên của Nay B không cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với khối lượng chất ma túy là 0,0685 gam, Nay B đang cất giữ trong người không đủ định lượng để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Gia Lai ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chị Siu H’B (vợ của Nay B) là chủ sở hữu hợp pháp căn nhà sàn mà Nay B, Rah Lan H và Ksor N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm xảy ra vụ việc H’B không có mặt ở nhà và không biết việc B, H và N sử dụng nhà sàn làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với Siu H’B về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như các tội phạm khác nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, hình phạt bổ sung của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về ý kiến của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Trước khi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nay B yêu cầu Rah Lan H và Ksor N góp mỗi người 100.000 đồng để trả tiền B đã mua ma túy. N đưa cho B số tiền 50.000 đồng, H thống nhất ngày hôm sau H sẽ đưa đủ B là 150.000 đồng cho cả phần N còn thiếu. Do đó, số tiền này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần truy thu, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Siu H’B: Hội đồng xét xử chấp nhận trả lại cho chị 01 (một) xe mô tô biển kiêm soát 81L1-175.59 và 01 (một) Çhứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6 ] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rah Lan H và Ksor N.

Xử phạt:

Bị cáo Nay B 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

Bị cáo Rah Lan H 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

Bị cáo Ksor N 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 03/01/2025.

*Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Truy thu số tiền 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng từ bị cáo Rah Lan H để sung vào ngân sách Nhà nước.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 (Một) kéo bằng kim loại màu trắng sáng, dài 10,5cm, mũi nhọn, đã qua sử dung.

- 01 (Một) quẹt gas màu vàng kích thước (8x2,4x1)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng số “6944919513128”, tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (Một) quẹt gas đã bị tháo rời phần đầu và gắn thêm ống kim loại hình trụ tròn đường kính 0,2cm, kích thước quẹt là (9,6x2x1,5)cm, trên thân có nhãn dán ghi dòng chữ “HOA VIỆT”, đã qua sử dụng.

- 01 (Một) vỏ hộp thuốc lá hiệu “GOLDEN EAGLE”, màu trắng đen, kích thước (8,8x5,5x2,3)cm, tình trạng đã qua sử dụng.- 01 (một) hộp nhựa trong suốt có dạng hình hộp chữ nhật (không có nắp đậy), kích thước (11,7x10x8)cm, đã qua sử dụng.

- 01 (Một) bì nilon trong suốt, dạng túi xách, tình trạng đã qua sử dung.

- 01 (Một) ống hút bằng nhựa màu trắng dài 18cm,đường kính 0,4cm, tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (Một) chai nhựa trong suốt cao 15cm, đuờng kính đáy chai 05cm, nắp chai bằng nhựa màu trắng có đường kính 2,9cm, trên nắp có lỗ hở đường kính 0,6cm, trên thân chai có lỗ hở đường kính 0,4cm, bên trong chai có nuớc trong suốt,tình trang đã qua sử dụng.

- 0,0685 gam chất màu trắng dạng tỉnh thể (loại Methamphetamine) thuộc doạn ống nhựa trong bì công văn ghi “Al” được bỏ trong một gói nilion cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì công văn có ký hiệu Al có dòng chữ “số113/PC ngày 10 tháng 01 năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công vǎn có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hảo.

- 01(Một) mảnh nhựa (đoạn ống nhựa, một đầu hở, một đầu kín) màu trắng (dài 1,5cm, rộng 0,4cm) cùng vỏ bao gói được niêm phong trong bì công văn có ký hiệu A2 có dòng chữ “số 113/PC ngày 10 tháng 01 năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hão.

- 01(Một) đoạn ống thủy tinh, uốn cong (dài 5cm, rộng 0,6cm cùng vỏ bao gói đuợc niêm phong trong bì công văn có ký hiệu A3 có dòng chữ “số 113/PC ngày 10 tháng 01 năm 2025” tại mép dán mặt sau bì công văn có đóng dấu tròn của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và các chữ ký, chữ viết Bùi Sỹ Thà, Nguyễn Quốc Khánh và bà Phan Như Hảo.

Tịch thu sung quỹ nhà nước:

- Số tiền 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng.

- 01(Một) điện thoại di động Vivo màu xanh dương, số IMEI 1:864588049206054,số IMEI 2:864588049206047, bên trong có gǎn sim số 0856357682 (trên thé sim có ghi 898402000 vinaphone 11601614348) và sim số 0392643857 (trên thé sim có ghi 8984048000040057431).

Trả lại cho chị Siu H’B:

- 01 (một) xe mô tô biển kiêm soát 81L1-175.59, số khung RLHJA3857PY239558, số máy JA52E-0613152, màu sơn đen, tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (một) Çhứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 81005174, tên chú xe Nay B, biển số đǎng ký 81L1-17559.

Trả lại cho bị cáo Nay B số tiền 708.000 (Bảy trăm lẻ tám nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - Gia Lai và Lệnh thanh toán vào tài khoản số 3949.0.1054166.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai tại Kho bạc nhà nước Khu vực XV- Phòng kế toán nhà nước).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nay B, Rah Lan H và Ksor N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 21/8/2025). Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ