- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Văn T và Vũ Đức K phạm tội " Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? *Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17 ; Điều 57 ; 58 ; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HSST Ngày 25/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
_______________________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NG SƠN – TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Bá Luyến
Bà Mai Thị Bình
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ng - Thư ký Tòa án
Toà án nhân dân huyện Ng Sơn.
-Đại diện VKS ND huyện Ng Sơn tham gia phiên toà:
Ông Mai Văn H - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 11/4/2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Văn T.Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 17/02/1999, tại Ng B, Ng Ng, Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: thôn B Th, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: thôn B Th, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Bố: Vũ Văn B, sinh năm 1969. Mẹ: Mai Thị H, sinh năm 1973. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02.Vợ: Hỏa Thị Kh Tr, sinh năm 2003 (bị cáo có 01 con, sinh 2023). Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Đức K.Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20/6/2004, tại xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: thôn B H, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: thôn B H, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Bố: Vũ Văn L, sinh năm 1964. Mẹ: Dương Thị L, sinh năm 1971.Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03.Chưa có vợ, con.Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng:
-Người có quyền lợi liên quan:
Bà Mai Thị H - sinh năm 1973. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B Th, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa.
-Người làm chứng:
Chị Hỏa Thị Khánh Tr - sinh năm 2003. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B Th, xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian tháng 10 năm 2022, do bản thân có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ trong dịp tết Nguyên đán 2023 nên Vũ Văn T đã tìm hiểu trên mạng internet (thông qua các Tr mạng xã hội) để tìm đặt mua pháo về sử dụng và bán lại cho những người có nhu cầu để hưởng tiền lời.
Cuối tháng 10 năm 2022, T đã tìm và liên hệ được với một người đàn ông không quen biết trên mạng Internet có tài khoản Facebook tên “Tuấn Vũ”. Sau khi nói chuyện và thống nhất giá cả, T đã đặt mua của người đàn ông này 04 hộp pháo hoa nổ loại 49 quả/hộp với tổng số tiền là 4.200.000 đồng. Do không có tiền trong tài khoản nên T đã đưa số tiền 4.200.000 đồng cho bạn của T là Phạm Anh Tú (sinh năm 2003, trú tại thôn B Trưng, Ng B) để nhờ Tú chuyển tiền đến số tài khoản 50140363828 mang tên Đặng Thị Ngọc mở tại Ngân hàng Sacombank (số tài khoản này do người đàn ông có tên Facebook “Tuấn Vũ” cung cấp trước đó). Đến đầu tháng 11/2022, T nhận được 04 hộp pháo đã đặt mua thông qua dịch vụ chuyển phát bưu phẩm. Sau khi nhận được pháo, T đã bán lại cho Mai Phạm Hiếu (sinh năm 2000, trú tại Thôn 3, Ng Trung) 01 hộp với giá 1.800.000 đồng; bán cho Khương Tiến Dũng (sinh năm 2000, trú tại thôn Đông Thái, Ng B) 01 hộp với giá 1.600.000 đồng và một người nam giới tên Th (có tài khoản Zalo tên Mai Văn Th) 01 hộp với giá 1.700.000 đồng. Đối với hộp pháo còn lại, T đã tách rời để sử dụng hết 35 quả và bán lại cho Vũ Đức K (là anh họ của T) 14 quả pháo với giá 660.000 đồng.
Thấy việc bán pháo dễ dàng, thu được lợi nhuận cao nên, T tiếp tục đặt mua của người đàn ông sử dụng tài khoản Facebook “Tuấn Vũ” 05 hộp pháo hoa nổ tương tự với tổng số tiền 6.000.000 đồng. Lần mua pháo này, T đã sử dụng tài khoản ngân hàng của vợ mình là Hỏa Thị Khánh Tr để chuyển số tiền 6.000.000 đồng đến số tài khoản 50140363828 mang tên Đặng Thị Ngọc. Đến ngày 17/11/2022, T nhận được 05 hộp pháo thông qua dịch vụ chuyển phát bưu phẩm. Sau khi nhận được pháo, T mang đến để tại nhà mẹ vợ của mình là bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1977, trú tại Thôn 1, xã Ng Ph. Cũng trong ngày 17/11/2022, người nam giới tên Th (trước đó đã từng mua 01 hộp pháo của T) liên lạc qua tài khoản Zalo hỏi mua 05 hộp pháo. Sau khi trao đổi, T đồng ý bán lại cho Th 05 hộp pháo hoa nổ mình vừa mua được với giá 1.700.000 đồng/hộp. Cả hai hẹn gặp nhau để trao đổi mua bán vào tối cùng ngày tại khu vực mương nước thuộc Thôn 7, xã Ng Thanh, huyện Ng Ng.
Do suy nghĩ việc đi bán pháo một mình vào thời điểm tối muộn có thể gặp nguy hiểm nên T đã gọi điện rủ Vũ Đức K (anh họ của T) đi bán pháo cùng mình thì được K đồng ý. Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2022, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter biển kiểm soát 36G1-330.28 đến đón K ở quán Internet tại xã Ng Trung. Sau đó cả hai cùng đi về nhà bà Nguyễn Thị Ph. Tại phòng ở trên tầng hai nhà bà Ph, T nói rõ cho K biết về 05 hộp pháo hoa nổ, trong đó có 04 hộp được bỏ trong tH cát tông và 01 hộp để trong chiếc ba lô màu hồng của T. Theo hướng dẫn của T, K ôm cả 05 hộp pháo này từ trên tầng 2 xuống xe mô tô của T. T để tH cát tông đựng 04 hộp pháo ở phía trước, còn K ngồi sau ôm chiếc ba lô màu hồng có 01 hộp pháo bên trong. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở theo K cùng với 05 hộp pháo hoa nổ đến khu vực mương nước thuộc thôn 7, xã Ng Thanh để giao cho người mua. Trong khi T và K đang chờ người mua pháo đến thì bị lực lượng Công an huyện Ng Ng kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Tang vật, tài sản thu giữ tại thời điểm bắt quả tang bao gồm: 05 khối hộp dạng hình hộp chữ nhật, mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi hộp có 49 ống hình trụ tròn; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 36 G1-330.28; 01 tH cát tông kích thước (35x22x20)cm; 01 ba lô màu hồng và 01 túi nilon màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng gắn sim số 0333.459.293 (của T); 01 điện thoại di động Sam Sung màu đen, hai sim số 0379.217306 và 0973.708246 (của K).
Ngày 18/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ng Ng ra Quyết định trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa giám định đối với tang vật nghi là pháo nổ thu giữ được nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 4097/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: 05 khối hộp, mỗi khối hộp dạng hình hộp chữ nhật kích thước (17 x 17 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài và có ký hiệu “KS4 - 4911L”, bên trong có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm của tH catton, ký hiệu M1 gửi đến giám định đều là pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng 05 khối hộp pháo trên là 8,7kg (tám phẩy bảy ki lô gam).
Sau khi Vũ Văn T bị bắt quả tang liên quan đến hành vi mua bán pháo nổ, ngày 18/11/2022, Mai Phạm H, Khương Tiến D và Vũ Đức K đã tự nguyện giao nộp các hộp pháo, quả pháo đã mua của Vũ Văn T cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Ng Ng. Cụ thể: Mai Phạm H giao nộp 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có 49 ống cát tông hình trụ tròn; Khương Tiến D giao nộp 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc bằng giấy nhiều màu sắc, bên trong có 49 ống cát tông hình trụ tròn; Vũ Đức K giao nộp 07 vật thể hình trụ tròn, dài 10cm, đường kính 1,5cm, có gắn một đoạn dây màu xanh (K đã sử dụng (đốt) 07 quả trước đó).
Ngày 20/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ng Ng ra Quyết định trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hóa giám định đối với tang vật nghi là pháo thu giữ được của Mai Phạm H, Khương Tiến D và Vũ Đức K. Tại bản kết luận giám định số 133/KL-KTHS ngày 26/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
- Mẫu vật do Vũ Đức K giao nộp: 07 vật hình trụ tròn, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm (trong quyết định trưng cầu ghi đường kính 1,5cm) có gắn sợi dây ngòi màu xanh của hộp cát tông niêm phong gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng 07 quả pháo trên là 0,2kg (không phẩy hai ki lô gam).
- Mẫu vật do Mai Phạm H giao nộp: 01 khối hộp dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, ký hiệu trên vỏ hộp “KS4-4911”, bên trong có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm được niêm phong gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng 01 khối hộp pháo trên là 1,6kg (một phẩy sáu ki lô gam).
- Mẫu vật do Khương Tiến D giao nộp: 01 khối hộp dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, ký hiệu trên vỏ hộp “CS689”, bên trong có 49 vật hình trụ tròn được liên kết với nhau, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm của hộp cát tông niêm phong gửi đến giám định đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ). Tổng khối lượng 01 khối hộp pháo trên là 1,72kg (một phẩy bảy hai ki lô gam).
Đối với 01 hộp pháo T đã bán cho người nam giới tên Th trước đó, hiện nay không thu hồi được, số quả pháo T và K đã sử dụng không xác định được khối lượng. Do đó, chỉ có căn cứ khối lượng số pháo hoa nổ Vũ Văn T đã đặt mua và nhận được vào thời gian đầu tháng 11 năm 2022, sau đó bán lại cho khách có khối lượng là 3,52kg (ba phẩy năm hai ki lô gam). Bản thân T chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi này của T chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với 05 hộp pháo hoa nổ T đã đặt mua, sau đó cùng với Vũ Đức K mang đi bán vào ngày 17/11/2022 có tổng khối lượng là 8,7kg (tám phẩy bẩy ki lô gam). Do đó, T và K phải chịu trách nhiệm hình sự về việc buôn bán số pháo hoa nổ này. Các bị can Vũ Văn T, Vũ Đức K là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Đối với người đàn ông sử dụng tài khoản Facebook “Tuấn Vũ” đã bán pháo hoa nổ cho Vũ Văn T và người nam giới tên Th sử dụng tài khoản Zalo “Mai Van Th” đã mua pháo của T, bị can không cung cấp được thông tin lai lịch, địa chỉ cụ thể, các bên chỉ trao đổi với nhau thông quan mạng xã hội. Cơ quan CSĐT đã áp dụng các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được. Đối với số tài khoản ngân hàng 50140363828, cơ quan CSĐT đã làm việc với chị Đặng Thị Ng, sinh năm 2004, hộ khẩu tại xóm N T, xã Ngh Ph, huyện T K, tỉnh Nghệ An (hiện đang làm công nhân tại tỉnh Bình Dương). Khai báo với cơ quan CSĐT, chị Ngọc trình bày: khoảng đầu tháng 11 năm 2022, chị Ngọc được một người nam giới thuê dùng thông tin cá nhân, số điện thoại của mình để mở tài khoản nêu trên tại chi nhánh Ngân hàng Sacombank thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mở thành công, chị Ngọc đã chuyển cho người này sử dụng thẻ ATM, chị Ng không biết người thuê mình mở tài khoản là ai và không liên quan gì đến hành vi buôn bán pháo nổ của Vũ Văn T. Do đó không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Phạm Anh T đã có hành vi chuyển tiền mua pháo giúp cho T và chị Hỏa Thị Khánh Tr cho T sử dụng tài khoản ngân hàng để chuyển tiền mua pháo. Quá trình điều tra xác định khi chuyển tiền, Vũ Văn T đều không nói mục đích chuyển tiền để mua pháo hoa nổ, anh Tú và chị Tr đều không biết hành vi buôn bán pháo của T nên không phải chịu trách nhiệm liên quan.
Đối với bà Nguyễn Thị Ph (là mẹ vợ của T), quá trình điều tra xác định: vợ chồng T thường xuyên đến chơi và sinh hoạt tại phòng ở trên tầng hai của gia đình. Ngày 17/11/2022, T đến nhà và để lại 05 hộp pháo, bà Ph và các thành viên khác trong gia đình không hay biết. Do đó không phải chịu trách nhiệm liên quan.
Về hành vi của T và K đã tự sử dụng (đốt) một số quả pháo hoa nổ, chỉ có duy nhất lời khai của từng bị can, không có tố giác tội phạm và chứng cứ liên quan nào khác nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi của Mai Phạm H tàng trữ 01 hộp pháo hoa nổ khối lượng 1,6kg, hành vi của Khương Tiến D tàng trữ 01 hộp pháo hoa nổ khối lượng 1,72 kg và hành vi của Vũ Đức K tàng trữ 07 quả pháo hoa nổ tổng khối lượng 0,2kg. Nhân thân của Hiếu, Dũng và K đều chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi này của H, D và K chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT tách hành vi “Tàng trữ hàng cấm” này và vật chứng liên quan, cũng như hành vi của Vũ Văn T bán pháo hoa nổ cho Hiếu, Dũng và K để xử lý hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Vật chứng, tài sản vụ án còn lại đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật gồm: Số pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) còn lại sau giám định có khối lượng 8,5kg, được đựng trong tH cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, họ tên của Trần Nam Giang, Trần Minh Hải và hình dấu màu đỏ có nội dụng “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, gắn sin số 0333.459293; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen; 01 tH cát tông kích thước (35x22x20)cm; 01 túi ba lô màu hồng và 01 túi ni long màu đen.
*Tại bản Cáo trạng số 08/CT- VKSNS ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng Ng truy tố các bị cáo Vũ Văn T và Vũ Đức K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự.
-Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng Ng giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
-Điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 15; Điều 17; Điều 57 ; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. (Đối với Vũ Văn T)
- Điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 15; Điều 17; Điều 57 ; Điều 58; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. (Đối với Vũ Đức K)
- Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
*Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T mức án từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng, tính từ ngày T án sơ thẩm.
*Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức K mức án từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày T án sơ thẩm.
*Về hình phạt bổ sung: Do các bi cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
*Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) còn lại sau giám định có khối lượng 8,5kg, được đựng trong tH cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, họ tên của Trần Nam Gi, Trần Minh H và hình dấu màu đỏ có nội dụng “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”; 01 tH cát tông kích thước (35x22x20)cm; 01 túi ba lô màu hồng và 01 túi ni long màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, gắn sin số 0333.459293 của Vũ Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Vũ Đức K. Là dụng cụ và phương tiện phạm tội.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28, mặc dù là phương tiện phạm tội, nhưng quá trình xác minh, chiếc xe này là xe do bà Mai Thị H mẹ của bị cáo T mua trả góp bằng tiền của bà sau đó lấy tên Vũ Văn T làm đăng ký xe, mục đích mua xe là để sử dụng cho công việc chung của gia đình, bà H không biết T đem xe đi mua bán pháo, nên trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28 cho bà Mai Thị H là phù hợp.
*Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. HĐXX nhận định.
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ng Ng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng Ng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, Vũ Văn T và Vũ Đức K đã thực hiện hành vi mang theo 05 hộp pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng 8,7 ki lô gam đến địa phận Thôn 7, xã Ng Th, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa để bán cho người mua. Tuy nhiên, khi chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an huyện Ng Ng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Như vậy Cáo trạng số 08/CT- VKSNS ngày 14/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ng Ng truy tố các bị cáo Vũ Văn T và Vũ Đức K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 điều 190 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, bàn bạc, phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể trong việc thực hiện tội phạm nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Trong đó, bị cáo Vũ Văn T là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán pháo để bán, với động cơ thu lời bất chính, nên Vũ Văn T giữ vai trò đầu vụ án; Bị cáo Vũ Đức K mặc dù không được hứa hẹn hưởng thụ lợi ích vật chất nhưng vẫn đồng ý đi bán pháo cùng T, nên K giữ vị trí thứ hai với vai trò đồng phạm giúp sức trong vụ án.
Xét tính chất, mức độ vụ án: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về pháo nổ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an và an toàn xã hội, do vậy cần phải T phạt các bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra và làm bài học răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Trước khi phạm tội các bị cáo đều là những người lương thiện, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo Vũ Văn T đã cùng gia đình đóng góp đầy đủ các loại quỹ, như quỹ khuyến học, quỹ đền ơn đáp nghĩa, quỹ vì người nghèo, tham gia tích cực các phòng trào của làng, xã, địa phương phát động đây được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (có xác nhận của địa phương)
Đối với bị cáo Vũ Đức K phạm tội với vai trò thứ yếu trong vụ án, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “ Phạm tội lần đầu và thuộc trượng hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bố của bị cáo K đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội đối với người có công, nên K được hưởng tình tiêt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy mặc dù bị cáo phạm tội nghiêm trọng, nhưng các bị cáo có đặc điểm nhân thân tốt, lý lịch rõ ràng, lần đầu phạm tội và phạm tội chưa đạt, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương là phù hợp, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt, sống có ý thức tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do các bi cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) còn lại sau giám định có khối lượng 8,5kg, được đựng trong tH cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, họ tên của Trần Nam Giang, Trần Minh Hải và hình dấu màu đỏ có nội dụng “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”; 01 tH cát tông kích thước (35x22x20)cm; 01 túi ba lô màu hồng và 01 túi ni long màu đen.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, gắn sim số 0333.459293 của Vũ Văn K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Vũ Đức K. Là dụng cụ và phương tiện phạm tội.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28, mặc dù là phương tiện phạm tội, nhưng quá trình xác minh, chiếc xe này là xe do bà Mai Thị H mẹ của bị cáo T mua trả góp bằng tiền của bà sau đó lấy tên Vũ Văn T làm đăng ký xe, mục đích mua xe là để sử dụng cho công việc chung của gia đình, bà H không biết T đem xe đi mua bán pháo, nên trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28 cho bà Mai Thị H là phù hợp.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17 ; Điều 57 ; 58 ; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự. (Đối với Vũ Văn T).
Điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 17 ; Điều 57 ; 58 ; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự. (Đối với Vũ Văn T).
Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 ; Điều 331 ; 332 ; 333; 337 Bộ luật tố tụng hình sự
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
*T bố: Các bị cáo Vũ Văn T và Vũ Đức K phạm tội “ Buôn bán hàng cấm”.
*Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, tính từ ngày T án sơ thẩm.
*Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức K 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày T án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Vũ Văn T và Vũ Đức K cho chính quyền xã Ng B, huyện Ng Ng, tỉnh Thanh Hóa quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. (năm 2019)
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
*Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) còn lại sau giám định có khối lượng 8,5kg, được đựng trong tH cát tông dán kín niêm phong, có chữ ký, họ tên của Trần N Gi, Trần M H và hình dấu màu đỏ có nội dụng “Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa”; 01 tH cát tông kích thước (35x22x20)cm; 01 túi ba lô màu hồng và 01 túi ni long màu đen.
Tịch thu nộp công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, gắn sim số 0333.459293 của Vũ Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen của Vũ Đức K.
Trả lại cho gia đình bà Mai Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu trắng - đen, biển kiểm soát 36G1-330.28. Toàn bộ số vật chứng nêu trên Đặc điểm theo Biên bản giao nhận Đồ vật, tài liệu, vật chứng, ngày 15/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nga Sơn.
*Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - VKSND huyện Ng Ng; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Ng Ng; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi liên quan - Chị cục THADS huyện; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Xuân Chuyên |