- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh T do anh T ngoại tình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày 30/3/2023. V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thắng;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lường Thu Trang và ông Lý Ba Duy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2022 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 (có mặt);
- Bị đơn: Anh Triệu Văn T, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Xóm DD, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh T tháng 01 năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Tháng 11/2021 chị phát hiện anh T có quan hệ ngoại tình, tháng 3/2022 chị phát hiện anh T có con riêng với người phụ nữ khác, cùng thời điểm đó chị cũng đang mang thai nhưng do bị sốc và tâm lý nên chị đã bị sảy thai. Nay không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị đề nghị được ly hôn anh T.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên Triệu Nhất L, sinh ngày 25/7/2020, hiện nay đang ở với chị H. Chị H đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Không yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu L.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị H, quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T, gồm: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa…. Ngày 16/02/2023, Toà án nhân dân huyện Võ Nhai đã tiến hành xác minh tại UBND xã TX, Công an xã TX, Ban xóm ĐD và gia đình anh T (làm việc với mẹ đẻ anh T là bà Tiền Thị N) xác định hiện nay anh T vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương, các văn bản tố tụng và giấy triệu tập của Toà án đã được tống đạt hợp lệ cho anh T. Do anh T không có mặt tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử công khai.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên toà:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Toà án thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phù hợp với các quy định của pháp luật, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh T; Giao cháu Triệu Nhất L, sinh ngày 25/7/2020 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị H không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, sau khi nghe các bên tranh luận, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn có nơi cư trú tại Xóm DD, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của chị H, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh T đến tòa án để giải quyết nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do. Toà án đã xác minh tại UBND xã TX, Công an xã TX, Ban xóm ĐD và gia đình anh T xác nhận các văn bản tố tụng và giấy triệu tập của Toà án đã được tống đạt hợp lệ cho anh T, anh T đã biết, nhưng không đến Tòa án giải quyết. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
. Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị H và anh Triệu Văn T đăng ký kết hôn với nhau năm 2020, có đăng ký tại UBND xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên nên đây được coi là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 11/2021 chị H phát hiện anh T có quan hệ ngoại tình, có con riêng với người khác, vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2022, hai bên không còn quan tâm đến nhau, nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Như vậy, có thể xác định được quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Xét, yêu cầu xin ly hôn của chị H là chính đáng, do vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị H.
. Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh T có 01 con chung là Triệu Nhất L, sinh ngày 25/7/2020, hiện nay đang ở với chị H. Chị H có nguyện vọng được nuôi cháu L, không đề nghị anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của chị H tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu L tính đến ngày xét xử sơ thẩm chưa đủ 3 tuổi, chị H có đủ điều kiện về nhà ở, thu nhập để nuôi con chung, bản thân anh T thường xuyên vắng nhà không quan tâm đến vợ con. Để đảm bảo điều kiện sống và học tập, cần giao cháu L cho chị H nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T do chị H không yêu cầu.
. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
. Về án phí: Trong vụ án này, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về việc giải quyết cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273, 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Triệu Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Triệu Nhất L, sinh ngày 25/7/2020 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu L đủ 18 tuổi hoặc có sự kiện khác.
Tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị H không yêu cầu. Anh T vẫn được quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0005044 ngày 07/11/2022.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND huyện Võ Nhai; - THADS huyện Võ Nhai; - UBND xã TX; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tất Thắng |