- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "xác định con cho cha"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-03-2023 Về việc xác định con cho cha |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Gia Cát
Ông Lê Xuân Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 24/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022 về việc “Xác định con cho cha”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Duy Q, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khu dân cư N, thành phố H, tỉnh H. Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thu Th, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số 107 đường Đ, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Huy M. Địa chỉ: Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Đinh Duy Q trình bày:
Năm 2019, ông và bà Lê Thu Th có quan hệ tình cảm và đã sinh một bé trai là cháu Đinh Tuấn C (sinh ngày 17/10/2019). Cháu C được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà Th và ông Trần Huy M và đang trong quá trình xét xử ly hôn nên ông không thể làm giấy khai sinh cho cháu C. Ông đã tình nguyện xét nghiệp ADN với cháu Đinh Tuấn C để xác định huyết thống cha con. Kết quả xét nghiệm ADN cho thấy ông và cháu C có cùng quan hệ huyết thống.
Vì vậy, ông đề nghị Tòa án xác định ông là cha đẻ của cháu Đinh Tuấn C để ông có thể làm thủ tục khai sinh cho con và con cũng được hưởng quyền lợi của trẻ em.
Bị đơn bà Lê Thu Th trình bày:
Năm 2018, bà kết hôn với ông Trần Huy M. Sau khi kết hôn, ông Trần Huy M trở về Mỹ sinh sống. Do vợ chồng sống cách xa nhau nên bà quyết định ly hôn, bà và ông Huy không có con chung. Trong quá trình đợi Tòa án giải quyết ly hôn, năm 2019, bà có quan hệ tình cảm với ông Đinh Duy Q và có 01 con chung với ông Q là cháu Đinh Tuấn C (sinh ngày 17/10/2019), hiện cháu Cường đang ở với bà.
Vì cháu C sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa bà với ông Trần Huy M nên bà không thể làm thủ tục khai sinh cho con. Tên Đinh Tuấn Cường là do bà và ông Đinh Duy Q tự đặt ra. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét xác nhận ông Đinh Duy Q là cha đẻ của cháu Đinh Tuấn C để ông Q có thể nhận con và làm thủ tục khai sinh cho con một cách hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Tòa án đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận ông Đinh Duy Q là cha ruột của cháu Đinh Tuấn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Huy M theo đúng quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy vậy, ông Trần Huy M không cung cấp lời khai và không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Nguyên đơn ông Đinh Duy Q và bị đơn bà Lê Thu Th đều vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Ông Đinh Duy Q và bà Lê Thu Th đều xác định có quan hệ tình cảm với nhau và có 01 con chung là cháu Đinh Tuấn C (sinh ngày 17/10/2019). Ông Q và bà Th đều đề nghị Tòa án công nhận ông Q là cha ruột của cháu C.
Hội đồng xét xử xét thấy: Kết luận giám định số 83/062022 ngày 20/6/2022 của Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ Gen Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam đã xác định: “Anh Đinh Duy Q và cháu Đinh Tuấn C có mối quan hệ huyết thống cha – con với xác xuất 99.99999983536532%”. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về án phí: Ông Đinh Duy Q không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà Lê Thu Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác định cháu Đinh Tuấn C, sinh ngày 17/10/2019, giới tính: Nam, là con đẻ của ông Đinh Duy Q.
2. Về án phí:
- Ông Đinh Duy Q không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Trả lại cho ông Đinh Duy Q 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009917 ngày 02/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Lê Thu Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Ông Đinh Duy Q và bà Lê Thu Th có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Ông Trần Minh Huy (Trần Huy Minh) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |