vanban.org

Bản án 08/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum Tuyên án 08/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo AB phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo AB 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy đị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo AB phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK TÔ
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2022/HS-ST
Ngày 08/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoa Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Hoàng Thị Thanh Hải - Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Nguyễn Du

2. Bà Huỳnh Thị Mai Yến – Bí thư Đoàn thanh niên xã Ngọc Tụ, huyện Đăk Tô

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022, Thông báo mở lại phiên tòa ngày số 101/TB-HS ngày 22/7/2022 đối với bị cáo:

AB, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29/05/2005 tại Kon Tum; Nơi đăng ký NKTT: thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xơ Đăng;Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: A Thar, sinh năm 1984; Mẹ: Y Thiêng, sinh năm 1984; Anh chị em ruột: Có 04 em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được giao cho người đại diện giám sát nhưng bỏ trốn và truy nã chưa có kết quả. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Y Thiêng, là mẹ bị cáo; sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum.( Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum.(Có mặt)

- Người bị hại: A Sáng, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: A Sát, A Tuyên, cùng địa chỉ: Thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (vắng mặt)

Người làm chứng: A Dũng, sinh ngày 25/12/2004, địa chỉ: Thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)

Đại diện hợp pháp của người làm chứng: A Giảo, địa chỉ: Thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 06/01/2022, A Sáng, AB, A Dũng (cùng trú tại thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm) ngồi nhậu với nhau tại nhà rông thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm. Trong lúc ngồi nhậu thì A Sáng có lấy trong túi quần bên phải phía trước của mình ra một cọc tiền khoe với AB và A Dũng đây là số tiền A Sáng đi làm ăn xa có được. Sau khi khoe xong A Sáng cất cọc tiền vào túi quần bên phải và tiếp tục nhậu. Một lúc sau có thêm A Sát tới nhậu cùng. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 07/01/2022, A Sát rủ mọi người về nhà mình nhậu tiếp nhưng chỉ có AB và A Dũng đồng ý còn A Sáng ngủ tại nhà rông cùng với A Tuyên. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, A Dũng và A Sát ngủ tại nhà A Sát còn AB quay lại nhà rông thấy A Sáng ngủ say nên AB đã lén lút lại gần và lục túi quần A Sáng lấy đi 10.500.00 đồng rồi mang số tiền đó về nhà cất giấu dưới gối trong phòng ngủ của mình và quay lại nhà A Sát ngủ.

Sau khi trộm cắp được tài sản, AB đã sử dụng số tiền đó mua đồ ăn, nước uống và tiêu xài cá nhân hết 900.000 đồng, lấy 1.600.000 đồng cất giấu trong vỏ gối ở phòng ngủ của mình để tiếp tục tiêu xài. Khi biết được A Sáng đã báo Công an vụ việc bị mất trộm tiền vì sợ bị phát hiện nên vào khoảng 03 giờ sáng ngày 11/01/2022, AB đã đem số tiền còn lại là 8.000.000 đồng bỏ vào túi nilong lén lút bỏ trước cửa nhà rông. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày A Sáng và A Tuyên thấy được số tiền trên.

Bản kết luận giám định kết luận toàn bộ số tiền 9.600.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo AB về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự 2015: xử phạt bị cáo AB từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo AB đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo và áp dụng quy định tại các điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất là 06 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo AB bỏ trốn và việc truy nã chưa có kết quả nên HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự , qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo có tại hồ sơ phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để khẳng định:

Lợi dụng sự lỏng lẻo trong quản lý tài sản của người bị hại, AB đã lén lút trộm cắp 10.500.000 đồng của A Sáng.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum đã truy tố bị cáo AB về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo AB tuy tuổi còn nhỏ nhưng đã dùng những thủ đoạn gian dối mục đích để trộm cắp được số tiền 10.500.000 đồng. Mặc dù nhậu tại nhà A Sát nhưng khi các bạn nhậu đã ngủ, AB quay lại nhà Rông, nơi A Sáng đang ngủ say và lục túi quần lấy đi 10.500.000 đồng. Sau khi lấy được tiền, để đánh lạc hướng điều tra, AB lại quay về nhà A Sát ngủ để tạo chứng cứ ngoại phạm.

Hành vi của AB thể hiện sự liều lĩnh, không có ý thức chấp hành pháp luật, che dấu hành vi trộm cắp một cách tinh vi. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo bỏ đi làm ăn xa, không chấp hành sự giám sát của người đại diện. Tòa án tống đạt các văn bản cho bị cáo, bị cáo đã biết nhưng vẫn không chấp hành triệu tập, hiện nay bị cáo bỏ trốn và đã bị cơ quan điều tra truy nã nhưng chưa có kết quả.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định là cần thiết, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật và nhằm ổn định an ninh trật tự địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản bị mất trộm cũng đã được thu hồi, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo đang ở độ tuổi dưới 18 (16 tuổi 07 tháng 08 ngày). Nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa đầy đủ nên áp dụng các điều luật của Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, mức hình phạt cao nhất không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự .

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại đã nhận lại được tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã trả lại 9.600.000 đồng cho chủ sở hữu là đúng pháp luật .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo AB phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo AB 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo AB.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/8/2022), người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị cáo, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ