vanban.org

Bản án 08/2022/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H - sinh năm 1991 Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. - Bị đơn: Anh Bùi Văn Đ - sinh nă…"
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quyết định số 4655/2017/QĐ-UBND Sửa đổi, bổ sung một số điều…
Toµ ¸n nh©n d©n
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 08 /2022/DS-ST
Ngµy: 24/10/2022
V/v: Tranh chấp chia di sản
thừa kế là quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất
Víi thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bïi ThÞ HuyÒn
C¸c héi thÈm nh©n d©n:
Th ký toµ ¸n ghi biªn b¶n phiªn toµ: Lê Thị Thu - c¸n bé Tòa án nhân dân
huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Ho¸
Đại diện viên kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Hƣơng- Kiểm sát viên
Xƣơng, tỉnh Thanh Ho¸ xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n thô lý sè 57/2021/TLST-
DS ngµy 22 th¸ng 11 n¨m 2021 vÒ viÖc: Tranh chấp chia di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö
sè 11/2022/Q§XX-DS ngµy12/9/2022.Quyết định hoãn phiên tòa số
12/2022/DSST- QĐ ngày 27/9/2022 gi÷a c¸c ® ¬ng sù:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H - sinh năm 1991
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn Đ - sinh năm 1993
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị H - sinh năm 1966
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
2. Chị Bùi Thị D - sinh năm 1986
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
3. Chị Bùi Thị H - sinh năm 1989
Nơi cƣ trú: Thôn Q, xã Q, Thị xã H, tỉnh Nghệ An
Người được chị H ủy quyền: Bà Lê Thị H - sinh năm 1966
Nơi cƣ trú: Tổ dân phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Văn bản ủy
quyền ngày 08/3/2022)
Tại phiên tòa có mặt các bên đƣơng sự

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ®¬n khëi kiÖn vµ t¹i c¸c b¶n khai còng nh c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬, nguyªn ®¬n chị Bùi Thị H trình bầy:

Bố mẹ chị là ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H sinh đƣợc 04 ngƣời con gồm: Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H và Bùi Văn Đ.

Khi bố chị còn sống, bố chị là ông Bùi Văn D và mẹ chị là bà Lê Thị H có tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm nhà đất tại phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 ngày 08/7/2008, diện tích 331m2 trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm, tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7 mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H cùng ngôi nhà mái bằng bố mẹ xây dựng từ năm 1997(hiện nay đã xuống cấp) và bếp, công trình phụ, bán bình xây dựng năm 2013. Bố chị do bị bệnh hiểm nghèo đã mất vào ngày 15/3/2014 (âm lịch), tức ngày 14/4/2014 (dƣơng lịch) theo trích lục khai tử số 11 ngày 17/4/2014 do UBND thị trấn T, huyện Q cấp ngày 28/4/2022.

Bố chị mất không để lại di chúc, chỉ để lại quyền sử dụng đất và nhà nhƣ nêu trên. Do mâu thuẫn trong gia đình giữa mẹ, con không có tiếng nói chung, em trai chị là Bùi Văn Đ thƣờng xuyên chửi bới, xúc phạm, đánh đuổi mẹ chị, không cho mẹ ở trong căn nhà mà do chính mẹ chị và bố chị tạo dựng nên, bản thân chị cũng là một thành viên trong gia đình, là con của ông D bà H nhƣng cũng bị đuổi ra khỏi nhà, hiện nay mẹ chị và chị phải đi thuê ở nơi khác. Gia đình đã tổ chức họp và cũng đã đề nghị UBND thị trấn hòa giải nhiều lần nhƣng không có kết quả. Nay chị có mong muốn đƣợc hƣởng phần thừa kế di sản là quyền sử dụng đất của bố mất đi để lại cùng với mẹ chị, để sau này mẹ con có nơi ăn ở ổn định cuộc sống và chị xin đƣợc hƣởng tài sản của bố bằng đất ở và đất cây lâu năm theo qui định của pháp luật.

Chị đƣợc biết theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất là 331m2 (trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm), nhƣng quá trình giải quyết qua xem xét đo vẽ kiểm tra hiện trạng thực tế diện tích đất hiện nay chỉ còn là 327,5m2, chị đề nghị tòa án chia theo diện tích đất thực tế phần đất của bố chị cho 05 ngƣời thuộc hàng thừa kế thứ nhất, phần của chị, chị xin đƣợc hƣởng bằng đất, nhƣng chị có nguyện vọng nếu nhƣ 1/2 phần đất của bố chia cho 05 ngƣời thì mỗi ngƣời đƣợc hƣởng 32,75m2 đất, phần chị đƣợc hƣởng 32,75m2 đất (trong đó có 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) cũng không thể ở đƣợc nên phần của chị, chị tự nguyện tặng cho mẹ chị là bà H đƣợc hƣởng 25,40m2 (trong đó 20m2 đất ở và 5,40m2 đất cây lâu năm) giáp với kỹ phần của bà Hải đƣợc hƣởng và giáp với phần đất là tài sản riêng của bà H để bà H đủ điều kiện tách thửa đất theo qui định của pháp luật. Còn lại 7,35m2 đất cây lâu năm của chị đƣợc hƣởng chị tự nguyện tặng cho em Đ đƣợc hƣởng để em Đ có đủ điều kiện tách thửa và đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định.

Về nhà trên đất: Nhà mái bằng bố mẹ xây dựng từ năm 1997 hiện nay đã quá cũ nát, xuống cấp, hội đồng đã xuống kiểm tra thực tế, đã hết khấu hao sử dụng, không còn giá trị nên chị không yêu cầu phân chia. Đối với phần tài sản là bếp, công trình phụ và bán bình lợp tôn bố mẹ xây dựng trên đất mà hội đồng kiểm tra và định giá nếu có để phân chia thì phần của chị đƣợc hƣởng giá trị công trình nổi chị không lấy mà tự nguyện cho mẹ chị là bà H đƣợc hƣởng.

* T¹i c¸c b¶n khai vµ c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ bị đơn anh Bùi Văn Đ trình bầy:

Bố mẹ anh là Bùi Văn D và Lê Thị H sinh ra đƣợc 04 ngƣời con gồm: chị Bùi Thị D, chị Bùi Thị H, chị Bùi Thị H và anh là Bùi Văn Đ. Năm 2014 bố anh Bùi Văn D mất không để lại di chúc chỉ để lại 01 mảnh đất tại B với diện tích 500m2 và nhà đất tại phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Ba chị D, Hg, H đi lấy chồng ở nơi khác, còn mình anh ở lại sinh sống trong căn nhà của bố mẹ anh tại phố Đ, thị trấn T. Nay chị H có đơn khởi kiện chia di sản là nhà và quyền sử dụng đất mà bố anh mất đi để lại tại phố Đ, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, anh không đồng ý, anh đề nghị để lại căn nhà và mảnh đất do bố tạo dựng nên để làm tài sản chung của tất cả thành viên trong gia đình, anh cũng không giữ làm tài sản riêng của anh, vì nếu phân chia sẽ không có chỗ thờ cúng bố anh và bản thân anh cũng không có điều kiện xây nhà thờ cho bố anh vì gia đình khó khăn. Nếu chị H muốn phân chia tài sản của bố là ông Bùi Văn D anh đồng ý chia mảnh đất ở trong B, phần anh đƣợc hƣởng anh cho chị H, còn nhà đất tại Đ, thị trấn T anh không đồng ý chia mà để làm tài sản chung.

*T¹i c¸c b¶n khai vµ c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ ng êi cã quyÒn lợi nghĩa vụ liªn quan bà Lê Thị H trình bầy:

Bà và ông Bùi Văn D kết hôn với nhau ngày 16/10/1985 và sinh đƣợc 04 ngƣời con: Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H, Bùi Văn Đ. Chồng bà là ông Bùi Văn D đã mất vào ngày 15/3/2014 (âm lịch) tức ngày 14/4/2014 (dƣơng lịch) do bệnh nặng. Bố mẹ ông D là ông Bùi Hữu T mất năm 1994, bà Lê Thị P mất năm 1990 (có giấy chứng tử). Quá trình chung sống bà và ông D có tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm nhà đất tại phố Đông Đa 2, Thị trấn T, huyện Qg, tỉnh Thanh Hóa, đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 ngày 08/7/2008, diện tích 331m2 trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm, tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7 mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H đồng sở hữu. Các con bà 03 gái, 01 trai đều đã lập gia đình riêng. Bà và gia đình con trai là Bùi Văn Đ cùng con gái là Bùi Thị H (chị H do ly hôn về ở với bà) cùng ở chung trong ngôi nhà tại phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Từ khi ông D mất gia đình luôn xảy ra mâu thuẫn, anh Đ luôn đe dọa chửi bới và đuổi bà ra khỏi nhà, bản thân đã già, không có sức kháng cự, bị con đuổi ra khỏi nhà không có nơi ở đang phải đi thuê nhà. Hiện nay di sản thừa kế của ông Bùi Văn D để lại là 1/2 giá trị tài sản là nhà đất tại địa chỉ: phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Do bà và các con không cùng nhau thống nhất phân chia 1/2 di sản là quyền sử dụng đất của ông D mất đi để lại, nên bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q giải quyết theo qui định của pháp luật, xác định 1/2 diện tích đất ở và đất cây lâu năm là tài sản của riêng của bà, còn 1/2 diện tích đất ở và đất cây lâu năm là di sản thừa kế của ông Bùi Văn D mất đi để lại chia cho các kỹ phần đƣợc hƣởng thừa kế theo pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các bên, bà đề nghị tòa án xem xét giải quyết cho bà đƣợc hƣởng tài sản của chồng bằng đất ở và đất cây lâu năm. Nay bà đƣợc biết diện tích đất hiện nay đƣợc hội đồng xuống kiểm tra đo thực tế còn là 327,5m2, bà đề nghị chia theo thực tế hiện nay. Việc con gái bà là Bùi Thị H tự nguyện cho bà phần đất đƣợc hƣởng thừa kế của bố bà xin nhận.

Về nhà trên đất: Nhà mái bằng vợ chồng bà xây dựng từ năm 1997 hiện nay đã quá cũ nát, xuống cấp, hội đồng đã xuống kiểm tra thực tế, đã hết khấu hao sử dụng, không còn giá trị nên bà không yêu cầu phân chia. Đối với phần tài sản là bếp, công trình phụ và bán bình lợp tôn bà và ông D xây dựng làm lại năm 2013 (trƣớc khi ông D mất), hội đồng kiểm tra và định giá nếu có giá trị để phân chia thì phần của bà, bà xin đƣợc hƣởng, phần cháu H và H cho bà thì bà xin nhận.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị D trình bầy:

Sau khi nhận đƣợc Thông báo thụ lý vụ án về việc chị Bùi Thị H có đơn khởi kiện anh Bùi Văn Đ đề nghị tòa án chia di sản thừa kế của bố chị là ông Bùi Văn D mất đi để lại, chị không đồng ý bởi lý do: Bố chị mất từ năm 2014 cho đến tháng 3/2021 mẹ chị là bà Lê Thị H đã đi thêm bƣớc nữa, nên việc thờ cúng bố chị do em trai Bùi Văn Đ chịu trách nhiệm. Trong tài sản mẹ chị bà H kê khai chị thấy vẫn còn thiếu, bố chị lúc còn sống có mua 01 mảnh đất 15m chiều ngang, tổng bao nhiêu m2 chị không rõ lắm, nhƣng có nhờ em trai mẹ chị là Lê Thiên T trong B mua và giờ khi bố chị mất chị cũng không đƣợc biết đến diện tích đất đó nữa và trong gia đình còn có 80m2 đất ruộng sao chị không thấy kê khai. Việc chị H khởi kiện đòi chia đất của bố chị mất đi để lại, chị không đồng ý mà để đó làm tài sản chung ai cũng có thể ở, nguyện vọng của chị để lại nhà đất đó để thờ cúng bố chị, không chia cho bất kỳ ai.

*T¹i c¸c b¶n khai vµ c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ ng êi cã quyÒn lợi nghĩa vụ liªn quan chị Bùi Thị H ủy quyền cho bà Lê Thị H trình bầy:

Bố mẹ chị là ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H, bố mẹ chị sinh đƣợc 04 ngƣời con gồm: Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H và Bùi Văn Đ. Lúc bố chị còn sống, bố chị là ông Bùi Văn D và mẹ chị là bà Lê Thị Hải có tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm nhà đất tại phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 ngày 08/7/2008, diện tích 331m2 trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm, tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7 mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H. Bố chị đã mất vào ngày 14/4/2014 (dƣơng lịch) không để lại di chúc. Từ khi bố mất gia đình luôn xảy ra mâu thuẫn, các chị em không đồng nhất ý kiến, thƣờng xuyên cải vả gây mâu thuẫn trong gia đình, em trai Bùi Văn Đ chửi bới, đánh đuổi mẹ chị ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn gia đình không giải quyết đƣợc, nay chị H có đơn khởi kiện chia thừa kế 1/2 quyền sử dụng nhà đất của bố chị là ông D mất đi để lại chị đồng ý, chị đề nghị tòa án chia theo diện tích đất thực tế phần đất của bố chị cho 05 ngƣời thuộc hàng thừa kế thứ nhất, phần của chị xin đƣợc hƣởng bằng đất, nhƣng chị xét thấy em Đ là con trai duy nhất trong gia đình, hiện nay đang sống trên mảnh đất của bố mẹ, hoàn cảnh cũng khó khăn nên phần đất của chị đƣợc hƣởng theo pháp luật chị xin từ chối nhận phần di sản bằng đất đƣợc hƣởng theo sự phân chia của Tòa, phần của chị đƣợc hƣởng chị tự nguyện tặng cho em Đ đƣợc hƣởng. Rất mong tòa chấp nhận nguyện vọng của chị, chị cam kết không thắc mắc, tranh chấp hay khiếu nại gì.

Về nhà trên đất: Nhà mái bằng bố mẹ xây dựng từ năm 1997 hiện nay đã quá cũ nát, xuống cấp, hội đồng đã xuống kiểm tra thực tế, đã hết khấu hao sử dụng, không còn giá trị nên chị không yêu cầu phân chia. Đối với phần tài sản là bếp, công trình phụ và bán bình lợp tôn bố mẹ xây dựng trên đất mà hội đồng kiểm tra và định giá nếu có để phân chia thì phần của chị đƣợc hƣởng giá trị công trình nổi chị không lấy mà tự nguyện cho mẹ chị là bà H đƣợc hƣởng, chị không yêu cầu gì.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ chị đã trình bầy

- Bà H cũng giữ nguyên quan điểm bà đã trình bầy cũng nhƣ quan điểm của chị H ủy quyền cho bà, bà vẫn giữ nguyên

- Chị D: vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ chị đã trình bầy. Trƣờng hợp nếu phải phân chia theo pháp luật, phần chị đƣợc hƣởng chị không cho ai và chị xin đƣợc hƣởng bằng đất.

- Anh Đ: vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bầy và đề nghị Tòa án chia đôi mảnh đất, anh đƣợc quyền sở hữu ½ nhà đất để làm nơi thờ cúng, còn ½ nhà đất thì chia cho các hàng thừa kế, phần của anh đƣợc hƣởng anh không nhận.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Toµ ¸n vµ đƣơng sự ®· tu©n thñ ®óng theo qui ®Þnh cña luËt tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt còng nh xÐt xö vô ¸n.

Về đƣờng lối: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147 BLTTDS. Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649; Điều 651; Điều 660 BLDS 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H về việc chia di sản thừa kế của ông Bùi Văn D.

- Chia 1/2 di sản thừa kế là quyền sử dụng đất diện tích 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm) và tài sản trên đất của ông Bùi Văn D cho các đồng thừa kế gồm 05 ngƣời: Bà Hải, chị D, chị H, chị H, anh Đ tại địa chỉ thửa đất phố Đông Đa 2, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa theo qui định của pháp luật.

- Về án phí: Ngƣời đƣợc hƣởng di sản thừa kế phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n vµ ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của bố chị là ông Bùi Văn D mất đi để lại. Căn cứ qui định khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, xác định đây là tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

. Về thời hiệu khởi kiện: Ông Bùi Văn D mất ngày 14/4/2014 không để lại di chúc và di sản để lại chƣa chia. Ngày 18/11/2021 chị Bùi Thị Hồng có đơn khởi kiện chia di sản thừa kế, tại khoản 1 Điều 623 BLDS qui định: "Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế". Nhƣ vậy, yêu cầu chia di sản thừa kế của chị H vẫn còn thời hiệu khởi kiện để xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.

. Về yêu cầu giải quyết: Ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H là vợ chồng, kết hôn với nhau năm 1985, trong thời gian chung sống ông bà có tạo lập đƣợc khối tài sản là nhà đất tại địa chỉ thửa đất phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 ngày 08/7/2008, diện tích 331m2 trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm, tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H và ngôi nhà mái bằng ông bà xây dựng từ năm 1997 (hiện nay đã xuống cấp) cùng bếp, công trình phụ, bán bình lợp tôn làm năm 2013. Hiện nay theo tài liệu tòa án kiểm tra hiện trạng thực tế diện tích đất là 327,5m2 tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2014 ông D chết không để lại di chúc, do trong gia đình không đồng ý với cách phân chia di sản thừa kế của ông D nên xảy ra tranh chấp, chị H (con gái ông D, bà H) khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông D là phù hợp với qui định tại Điều 649, 650 của BLDS.

.Về di sản thừa kế:

. Các đƣơng sự đều thống nhất ông D, bà H trong thời gian chung sống có tạo lập đƣợc khối tài sản chung gồm: Quyền sử dụng đất tại phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 ngày 08/7/2008, diện tích 331m2 trong đó có 200m2 đất ở và 131m2 đất cây lâu năm, tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H và ngôi nhà mái bằng ông bà xây dựng từ năm 1997 (hiện nay đã xuống cấp) cùng bếp, công trình phụ, bán bình làm năm 2013. Ngày 26/4/2022 Tòa án đã thành lập Hội đồng tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất thực tế mà hiện nay gia đình đang quản lý sử dụng có diện tích đất là 327,5m2 tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7, địa chỉ phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và ngôi nhà mái bằng diện tích 57,15m2 ông bà xây dựng từ năm 1997 (hiện nay đã xuống cấp) cùng bếp, công trình phụ, bán bình làm năm 2013. Cùng ngày Tòa án đã mời Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Q tiến hành định giá tài sản, xác định: đất ở: theo giá thị trƣờng là: 10.000.000đ/1m2; Đất cây lâu năm theo đơn giá của Nhà nƣớc là :27.000đ/m2. Đối với phần tài sản là nhà trên đất: 01 ngôi nhà mái bằng ông bà xây dựng từ năm 1997 (hiện nay đã xuống cấp) giá trị 0 đồng; về bếp, công trình phụ xây năm 2013 trị giá: 11.129.000đ; Bán bình lợp tôn xây dựng năm 2013 trị giá: 519.000đ. Vì vậy, xác định tài sản trên của ông D, bà H đƣợc hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do vậy đƣợc xem là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng ông D, bà H theo qui định tại Điều 213 BLDS 2015 và Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Căn cứ Điều 612 BLDS xác định di sản của ông D là 1/2 trong số tài sản chung nêu trên, cụ thể:

. Phần bà H đƣợc đƣợc xác định trong khối tài sản chung của ông D và bà H là 1/2 đƣợc tính là: 327,5m2 : 2 = 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm). Vị trí thửa đất nằm ở phía Bắc mảnh đất, có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất chia cho bà đƣợc hƣởng theo phần thừa kế; phía Bắc giáp hộ ông Bùi Sỹ V. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 1(chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M3 đến M4 đến M5 đến M6 đến M3.

. Xác định di sản của ông D mất đi để lại là 1/2 trong số tài sản chung đƣợc tính là: 327,5m2 : 2 = 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm). Đất có giá trị là: 1.001.721.250đ. Diện tích đất này sẽ đƣợc xem xét chia cho các hàng thừa kế theo pháp luật.

. Về hàng thừa kế: Căn cứ vào lời khai và thừa nhận của các bên cũng nhƣ các tài liệu thu thập trong hồ sơ có đủ cơ sở xác định: Ông D và bà H có 04 ngƣời con là chị Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H và Bùi Văn Đ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 BLDS thì hàng thừa kế thứ nhất của ông Dũng gồm 05 ngƣời: bà Lê Thị H, chị Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H và Bùi Văn Đ sẽ đƣợc hƣởng di sản của ông D.

[5]. Đối với anh Đ và chị D ngoài việc không đồng ý chia di sản thừa kế của bố mất đi để lại tại Đ, thị trấn T nhƣ nêu trên, cả hai còn đề nghị xem xét chia di sản thừa kế của ông D diện tích đất ở B và đất ruộng. Thấy rằng: Căn cứ khoản 1 Điều 5 BLTTDS qui định "Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó". Trong vụ án này chị Hồng có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ở và đất cây lâu năm tại Đ, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết đối với yêu cầu này của chị Hồng. Theo Điều 199, 200 BLTTDS qui định “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có)” và “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Đối với yêu cầu của chị D và anh Đ xem xét chia đất ở Bình Thuận, tuy nhiên kể từ thời điểm thụ lý cho đến trƣớc thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải chị D, anh Đ không có đơn yêu cầu phản tố nộp cho Tòa án để xem xét và cũng không cung cấp chứng chứng minh mảnh đất tại B có hay không. Vì vậy, yêu cầu này của chị D, anh Đ không đƣợc xem xét, giải quyết trong vụ án này, mà dành quyền khởi kiện cho chị D, anh Đ trong vụ án khác nếu có yêu cầu và có căn cứ.

. Về phân chia di sản thừa kế: căn cứ Điều 650, 660 BLDS do ông D chết không để lại di chúc, vì vậy phần di sản là quyền sử dụng đất của ông D đƣợc xác định là: 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm) sẽ đƣợc chia 05 phần cho những ngƣời thừa kế: gồm bà Hải, chị D, chị H, chị H, anh Đ, chia theo theo phần thì mỗi kỹ phần đƣợc hƣởng là 32,75m2 (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm). Căn cứ Quyết định số 4463/2014/QĐ-UBND ngày 12/12/2014 và Quyết định 4655/2017/QĐ-UBND ngày 04/12/2017 của UBND tỉnh Thanh Hóa qui định về diện tích thửa đất đƣợc phép tách thửa, phải đảm bảo thửa đất còn lại và các thửa đất đƣợc hình thành sau khi tách thửa có diện tích, kích thƣớc cạnh tối thiểu đối với đất ở địa bàn xã đồng bằng tối thiểu là 50m2 và kích thƣớc cạnh tối thiểu là 4m. Với qui định này thì diện tích đất ở chia cho mỗi kỹ phần là không đáp ứng yêu cầu tối thiểu để tách thửa theo qui định và khó thực hiện chia theo hiện vật là đất. Tuy nhiên, chị H và chị H là ngƣời đƣợc hƣởng thừa kế của ông D đã từ chối nhận di sản thừa kế, phần chị H đƣợc hƣởng tự nguyện cho anh Đ, phần chị H đƣợc hƣởng chị tự nguyện cho anh Đ 7,35m2 đất cây lâu năm để anh Đ đủ điều kiện tách thửa theo qui định và phần còn lại của chị chị tự nguyện của bà H 25,40m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 5,40m2 đất cây lâu năm). Bà H đồng ý nhận lại kỷ phần từ chị H. Xét đề nghị của chị H và chị H là tự nguyện, phù hợp với qui định của pháp luật và đủ điều kiện để anh Đ đƣợc tách thửa theo qui định, nghĩ nên chấp nhận sự tự nguyện của chị H, chị H.

. Hiện nay anh Đ đang trực tiếp sinh sống trên mảnh đất này, nên chia anh Đ đƣợc hƣởng bằng đất để anh có nơi sinh sống ổn định và phần đất anh đƣợc sử dụng phải đủ điều kiện để tách thửa và để cấp đƣợc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chia anh Đ phần di sản thừa kế cho anh bằng đất, cụ thể: Phần anh đƣợc hƣởng là 32,75m2 đất (gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm), ngoài ra anh còn đƣợc hƣởng 32,75m2 đất (gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) là phần đất của chị H tự nguyện cho anh; 7,35m2 đất cây lâu năm chị H tự nguyện cho anh, tổng là 72,85m2 (gồm 40m2 đất ở và 32,85m2 đất cây lâu năm). Với diện tích đất trên thì anh Đ cũng không đủ điều kiện để tách thửa, nên kỹ phần của chị D đƣợc hƣởng là 32,75m2 (gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) sẽ không chia cho chị D đƣợc hƣởng bằng đất vì với diện tích đất này chị D cũng không đủ điều kiện tách thửa, hơn nữa chị đi lấy chồng và có chỗ ở ổn định, vì vậy để tạo điều kiện cho anh Đ có đủ diện tích đất đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên giao phần diện tích đất chị D đƣợc hƣởng cho anh Đ và anh Đ phải có trách nhiệm giao lại cho chị D giá trị bằng tiền của diện tích đất này đƣợc tính là 200.344.250đ.

. Từ những phân tích nêu trên: Chia phần đất cho anh Đ đƣợc hƣởng (bao gồm cả kỹ phần của anh; chị H, chị H cho anh và của chị D). Tổng anh đƣợc hƣởng là 105,60m2 đất (trong đó, gồm 60m2 đất ở và 45,60m2 đất cây lâu năm), nhƣng anh phải có trách nhiệm chênh lệch lại cho chị D giá trị bằng tiền của phần đất chia cho chị D là 200.344.250đ. Giá trị thành tiền anh đƣợc hƣởng là 400.886.950đ (trừ đi phần tiền giao lại cho chị D).Vị trí thửa đất giao cho anh Đ đƣợc hƣởng nằm ở phía Nam mảnh đất, có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất hộ ông Phan Đình T; phía Bắc giáp phần đất bà H đƣợc hƣởng. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 3 (chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M1 đến M2 đến M7, đến M8, đến M1.

. Chia cho bà H đƣợc hƣởng 32,75m2 đất (gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) và phần chị Hồng cho bà 25,40m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 5,40m2 đất cây lâu năm). Tổng bà đƣợc hƣởng là 58,15m2 đất (gồm 40m2 đất ở và 18,15m2 đất cây lâu năm). Đƣợc tính giá trị thành tiền là: 400.490.050đ. Vị trí thửa đất bà đƣợc hƣởng có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất chia cho anh Đ; phía Bắc giáp phần đất của bà H. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 2 (chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M 2 đến M3 đến M6 đến M7 đến M2

. Về diện tích đất đƣợc chia cho bà H, anh Đ, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà H có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục nhập phần đất của bà đƣợc hƣởng vào phần đất là tài sản riêng của bà theo qui định và bà H, anh Đ có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định của pháp luật.

. Đối với công trình vật kiến trúc trên đất: Qua xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 26/4/2022 của Hội đồng thì: Nhà mái bằng diện tích 57,15m2 làm từ năm 1997, hiện đã xuống cấp, đã hết khấu hao nên Hội đồng định giá xác định giá trị còn lại là 0 đồng. Do đã hết khấu hao sử dụng, không còn giá trị nên chị H, bà H, chị Hg không yêu cầu phân chia. Tuy nhiên khi phân chia đất, phần nhà này về có bản là nằm trên phần đất chia cho bà H, nên bà H tiếp tục sử dụng, nếu có phần công trình nhà mái bằng này có liên quan đến phần đất chia cho anh Đ thì bà H có trách nhiệm xây ngăn bức tƣờng danh giới giữa hai bên và bà có trách nhiệm xây ngăn danh giới đất và nhà giữa bà với anh Đ đƣợc chia khi bản án có hiệu lực pháp luật.

. Đối với phần di sản là tài sản trên đất gồm bếp, công trình phụ xây năm 2013 trị giá 11.129.000đ. Bán bình lợp tôn xây dựng năm 2013 trị giá 519.000đ. Tổng 11.648.000đ. Phần bà Hải đƣợc đƣợc xác định trong khối tài sản chung của ông D và bà H là ½ cụ thể: 11.648.000đ: 2 = 5.824.000đ. Còn lại 5.824.000đ chia cho 05 kỹ phần mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là: 1.164.800đ. Thấy rằng: Về bếp, công trình phụ và bán bình nằm trên phần đất chia cho bà H, nghĩ nên giao bà H tiếp tục quản lý sử dụng và bà có trách nhiệm chênh lại tiền cho các hàng thừa kế đƣợc tính 5.824.000đ : 5 ngƣời = 1.164.800đ/ngƣời. Phần của chị H và chị H không nhận cho bà Hải và bà H có trách nhiệm giao lại cho chị D, anh Đ mỗi ngƣời số tiền là 1.164.800đ. Chị D, anh Đ đƣợc nhận mỗi ngƣời số tiền là 1.164.800đ do bà Hải giao lại.

. Nhƣ vậy, phần bà H đƣợc hƣởng tài sản gồm đất và nhà trị giá là: 400.490.050đ (tiền đất) và 3.494.400đ (tiền tài sản trên đất bao gồm phần của bà H, của chị H và chị H cho bà) = 403.982.450đ. Phần anh Đ đƣợc hƣởng tài sản gồm đất và số tiền do bà H giao lại trị giá là: 400.886.950 (tiền đất) và 1.164.800đ (giá trị tài sản trên đất do bà Hải bà giao lại ) = 402.059.050đ. Phần chị D đƣợc hƣởng tài sản bằng tiền trị giá là: 200.344.250 (giá trị tiền đất do anh Đ giao lại) và 1.164.800đ (giá trị tài sản trên đất do bà H bà giao lại ) = 201.509.050đ.

. Về chi phí tố tụng: Chị H tự nguyện nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, chị không có ý kiến và yêu cầu gì, nghĩ nên chấp nhận sự tự nguyện của chị, nên không xét

. VÒ ¸n phÝ: Căn cứ khoản 2 Điều 147 BLTTDS; điểm a Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Quốc hội; điểm b, c, 1.3 mục 1 phần II, A. Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết. Bà H, anh Đ, chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tƣơng ứng với giá trị phần tài sản đƣợc hƣởng. Cụ thể bà Hải đƣợc hƣởng là: 403.982.450đ, số tiền án phí bà phải chịu đƣợc tính là 20.159.298đ. Phần anh Đạt đƣợc hƣởng 402.059.050đ, số tiền án phí anh phải chịu đƣợc tính là 20.082.070đ. Phần chị D đƣợc hƣởng 201.509.050đ, số tiền án phí chị phải chịu đƣợc tính là 10.075.452đ. Do chị Bùi Thị H từ chối nhận di sản thừa kế và không hƣởng di sản thừa kế, nên số tiền tạm ứng án phí là 825.000đ chị đã nộp tại thi hành án dân sự huyện Q theo biên lai thu số 0009258 ngày 22/11/2021 sẽ đƣợc trả lại cho chị H.

V× c¸c lÏ trªn.

QuyÕt ®Þnh

Căn cứ: Điều 5; khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91; khoản 2 Điều 147; Điều 199; Điều 200; Điều 273; Điều 280 BLTTDS. Điều 213; Điều 610, Điều 611; Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649; điểm a khoản 1 Điều 650; điểm a khoản 1 Điều 651; Điều 660; điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015; Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014. Điều 6; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; điểm b, c, 1.3 mục 1 phần II, A. Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của chị Bùi Thị H.

- Xác định phần diện tích đất của bà Lê Thị H trong khối tài sản chung của ông Bùi Văn D là: 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm) tại địa chỉ phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 đã đƣợc UBND huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/7/2008 mang tên ông Bùi Văn D và bà Lê Thị H tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7. Vị trí thửa đất của bà H nằm ở phía Bắc mảnh đất, có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất chia cho bà đƣợc hƣởng theo phần thừa kế; phía Bắc giáp hộ ông Bùi Sỹ V. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 1 (chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M3 đến M4 đến M5 đến M6 đến M3.

- Công nhận di sản của ông Bùi Văn D mất đi để lại là Quyền sử dụng đất tại địa chỉ phố Đ, Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí thửa đất nằm ở phía Nam mảnh đất, diện tích 163,75m2 (trong đó, gồm 100m2 đất ở và 63,75m2 đất cây lâu năm) có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 989806 đã đƣợc UBND huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 08/7/2008 mang tên ông Bùi Văn Dg và bà Lê Thị H tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 7.

- Xác định ngƣời thừa kế của ông Bùi Văn D gồm: bà Lê Thị H, chị Bùi Thị D, Bùi Thị H, Bùi Thị H và Bùi Văn Đ, chia mỗi ngƣời đƣợc hƣởng 32,75m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm).

- Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc tặng cho kỷ phần của mình đƣợc hƣởng từ ông Bùi Văn D cho anh Bùi Văn Đ là 32,75m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm).

- Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc tặng cho kỷ phần của mình đƣợc hƣởng từ ông Bùi Văn D cho anh Bùi Văn Đ là 7,35m2 đất cây lâu năm và chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc tặng cho kỷ phần của mình đƣợc hƣởng từ ông Bùi Văn D cho bà Lê Thị H là 25,40m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 5,40m2 đất cây lâu năm).

- Chia cho anh Bùi Văn Đ đƣợc hƣởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất bao gồm: Phần của anh đƣợc hƣởng là 32,75m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm), phần đất của chị H tự nguyện cho anh là 32,75m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm), phần đất của chị H tự nguyện cho anh là 7,35m2 đất cây lâu năm anh và 32,75m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) kỹ phần đất của chị D giao cho anh. Tổng anh đƣợc hƣởng là 105,60m2 đất (trong đó, gồm 60m2 đất ở và 45,605m2 đất cây lâu năm).

Anh Đ phải có trách nhiệm giao lại cho chị Bùi Thị D số tiền 200.344.250đ giá trị bằng tiền của phần đất chia cho chị D mà anh đƣợc hƣởng. Chị Bùi Thị D đƣợc nhận lại số tiền 200.344.250đ do anh Đạt giao lại.

Vị trí thửa đất giao cho anh Đ đƣợc hƣởng nằm ở phía Nam mảnh đất, có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất hộ ông Phan Đình T; phía Bắc giáp phần đất bà H đƣợc hƣởng. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 3 (chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M1 đến M2 đến M7, đến M8, đến M1. Giá trị thành tiền anh Đạt đƣợc hƣởng là 400.886.950đ.

- Chia cho bà H đƣợc hƣởng di sản thừa kế quyền sử dụng đất bao gồm: phần của bà đƣợc hƣởng 32,75m2 đất (gồm 20m2 đất ở và 12,75m2 đất cây lâu năm) và phần chị H cho bà 25,40m2 đất (trong đó, gồm 20m2 đất ở và 5,40m2 đất cây lâu năm). Tổng bà đƣợc hƣởng là 58,15m2 đất (gồm 40m2 đất ở và 18,15m2 đất cây lâu năm). Đƣợc tính giá trị thành tiền là: 400.490.050đ. Vị trí thửa đất bà đƣợc hƣởng có tứ cận nhƣ sau: phía Tây giáp đƣờng thôn; phía Đông giáp hộ ông Đỗ Xuân Q; phía Nam giáp đất chia cho anh Đ; phía Bắc giáp phần đất của bà H. Diện tích thửa đất đƣợc mô tả tại Thửa số 2 (chi tiết các cạnh có sơ đồ kèm theo), đƣợc định vị bởi các mốc từ M 2 đến M3 đến M6 đến M7 đến M2.

- Về diện tích đất đƣợc chia cho bà H và anh Đ, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật bà H có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục nhập phần đất của bà đƣợc hƣởng vào phần đất là tài sản riêng của bà theo qui định và bà H, anh Đ có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định của pháp luật.

- Bà Lê Thị H có trách nhiệm xây ngăn danh giới nhà và đất giữa bà với anh Đ đƣợc chia khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Dành quyền cho chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn Đ đƣợc quyền yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất tại B và đất ruộng trong một vụ án khác khi có đơn yêu cầu và có đầy đủ chứng cứ.

+ Về tài sản trên đất: Công nhận di sản là tài sản trên đất của ông Bùi Văn D để lại tổng trị giá là 5.824.000đ, chia cho bà Lê Thị H, chị Bùi Thị D, chị Bùi Thị H, chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn Đ mỗi ngƣời đƣợc hƣởng là 1.164.800đ.

- Về công trình nhà, bếp, công trình phụ và bán bình nằm trên phần đất của bà Hải và phần đất chia cho bà Hải, giao bà Hải tiếp tục quản lý sử dụng và bà có trách nhiệm giao lại tiền cho các hàng thừa kế gồm: chị Bùi Thị D, chị Bùi Thị H, chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn Đ mỗi ngƣời đƣợc là 1.164.800đ.

- Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H, chị Bùi Thị H không nhận số tiền đƣợc hƣởng mỗi ngƣời là 1.164.800đ và tự nguyện cho bà H. Bà H đƣợc hƣởng giá trị tài sản do chị H, chị H cho bà và phần của bà tổng là 3.494.400đ.

- Bà Lê Thị H có trách nhiệm giao lại cho chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn Đ mỗi ngƣời số tiền là 1.164.800đ. Chị Bùi Thị D và anh Bùi Văn Đ mỗi ngƣời đƣợc nhận lại số tiền là 1.164.800đ do bà Lê Thị H giao lại.

Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, chị D, anh Đ có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền bà H phải giao lại cho chị D và anh Đ; chị D có đơn thi hành án đối với số tiền anh Đ phải giao lại cho chị D, nếu anh Đ, bà H không thi hành hoặc thì hành không đầy đủ thì hàng tháng còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi xuất qui định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí dân sự có giá ngạch: Bà Lê Thị H phải chịu án phí đƣợc tính là 20.159.298đ (làm tròn số 20.159.000đ). Anh Bùi Văn Đ chịu án phí đƣợc tính là 20.082.070đ (làm tròn số 20.082.000đ). Chị Bùi Thị D chịu án phí đƣợc tính là 10.075.452đ (làm tròn số 10.075.000đ).

Trả lại cho chị Bùi Thị H số tiền tạm ứng án phí là 825.000đchị đã nộp tại thi hành án dân sự huyện Q theo biên lai thu số 0009258 ngày 22/11/2021

ơ

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n, ho¹c bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo qui ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6,7,7a,9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo qui ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bên đƣơng sự, báo cho các bên biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn

Cỡ chữ