- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa Trung tâm B và Công ty TNHH Thương mại Du lịch X"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/KDTM-ST Ngày 11/6/2020 V/v “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sanh
- Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án
nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Bà Trần Nhã Minh Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 56/2019/TLST-KDTM ngày 20 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trung tâm B.
Địa chỉ: đường D, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Thị M - Phó trưởng phòng kế hoạch tài
chính. (Văn bản ủy quyền số 25/BTDT-TC ngày 16/01/2020) (Có mặt)
2. Bị đơn: Công ty TNHH Du lịch Thương mại X.
Địa chỉ: đường P, phường HC, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Địa chỉ văn phòng đại diện: đường V, phường L, quận 1, thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn Q – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị kiêm Tổng giám đốc. (Vắng mặt)
Địa chỉ: đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn Q
Địa chỉ: đường P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, theo lời trình
bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nội dung vụ án như sau:
Trung tâm B và Công ty TNHH Thương mại Du lịch X có ký hợp đồng kinh
tế số 11 KT/DT ngày 07/01/2015 về việc phát hành “Phiếu tham quan” phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan tại các điểm di tích Huế thuộc Trung tâm B quản lý, có hiệu lực từ 01/01/2015 đến 31/12/2015. Phiếu tham quan thay cho hình thức thanh toán tiền mặt trực tiếp tại các điểm bán vé của di tích Huế. Sau mỗi tháng, Trung tâm B sẽ tổng hợp toàn bộ số phiếu mà Công ty TNHH Thương mại Du lịch X đã sử dụng cho khách du lịch đến tham quan các điểm di tích Huế và gửi văn bản xác nhận công nợ kèm theo bảng kê chi tiết số lượng khách đến tham quan từng điểm, từng tuyến tham quan và giá trị công nợ. Sau đó, Công ty TNHH Thương mại Du lịch X sẽ đối chiếu và thanh toán cho Trung tâm B theo giá trị công nợ đã xác nhận. Từ tháng 01 năm 2016 hợp đồng hết hạn, Công ty TNHH Thương mại Du lịch X không tiếp tục ký hợp đồng và cũng không thanh toán cho Trung tâm B với số nợ lũy kế là 159.250.000 đồng. Ngày 30/6/2016, giữa Trung tâm B và Công ty TNHH Thương mại Du lịch X đã có biên bản đối chiếu công nợ. Theo đó xác định, Công ty TNHH Thương mại Du lịch X còn phải trả cho Trung tâm B số nợ 159.250.000 đồng. Sau thời điểm chốt nợ, Trung tâm B nhiều lần liên lạc với Công ty TNHH Thương mại Du lịch X để thu hồi nợ nhưng Công ty TNHH Thương mại Du lịch X không trả. Nay, Trung tâm B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Thương mại Du lịch X trả số tiền 159.250.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, kết quả xác minh tại Sở kế hoạch và đầu tư
thành phố Đà Nẵng xác định, Công ty TNHH Thương mại Du lịch X đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo Quyết định số 64781/18 ngày 16/7/2018. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bằng thủ tục niêm yết và Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, qua nhiều lần triệu tập bị đơn là Công ty TNHH Thương mại Du lịch X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn Q vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Thương mại Du lịch X trả số tiền 159.250.000 đồng làm một lần là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là Công ty TNHH
Thương mại Du lịch X có trụ sở tại 167 – 173 Trần Phú, phường Hải Châu I, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, do đó tranh chấp hợp đồng kinh tế giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt đến lần thứ hai, do đó HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 xét xử vắng mặt những người nói trên.
Về nội dung tranh chấp: Trung tâm B và Công ty TNHH Thương mại Du
lịch X có ký hợp đồng kinh tế số 11 KT/DT ngày 07/01/2015 về việc phát hành “Phiếu tham quan” phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan tại các điểm di tích Huế thuộc Trung tâm B quản lý có hiệu lực từ 01/01/2015 đến 31/12/2015. Ngày 30/6/2016, giữa Trung tâm B và Công ty TNHH Thương mại Du lịch X đã có biên bản đối chiếu công nợ. Theo đó xác định, Công ty TNHH Thương mại Du lịch X còn phải trả cho Trung tâm B số nợ 159.250.000 đồng. Tuy nhiên, bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, mặc dù nguyên đơn nhiều lần yêu cầu. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. HĐXX nhận thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Điều 5, Điều 6 hợp đồng số 11 KT/DT ngày 07/01/2015, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và cần được chấp nhận toàn bộ.
Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm 7.962.500 đồng bị đơn là Công
ty TNHH Thương mại Du lịch X phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Điều 280 Bộ luật dân sự 2015.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Trung tâm B đối với công ty
TNHH Thương mại Du lịch X.
Xử:
1. Buộc công ty TNHH Thương mại Du lịch X phải trả cho Trung tâm B số
tiền 159.250.000 đồng (Một trăm năm mươi chín triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: 7.962.500 đồng (Bảy triệu chín
trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm đồng) Công ty TNHH Thương mại Du lịch X phải chịu.
3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |