vanban.org

Bản án 08/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 18/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trương Hồng P 03 (Ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HSST
Ngày: 18/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông

Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít

xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Trương Hồng P, sinh năm: 1993.

Trú tại: Số 176/13, Khóm 1, phường 3, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn 3/12; con ông Trương Văn Chính và bà Đặng Thị Thảo; Chưa có chồng, con; Anh, chị, em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1987 nhỏ nhất là bị cáo).

Tiền sự: Ngày 30/9/2019 bị Công an xã Tân Khánh Đông, thành phố Sa

Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành.

Tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Trương Minh Hiếu, sinh năm: 1961 (Vắng mặt)

Trú tại: ấp Phú Hòa, xã Nhơn Phú, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Trần Thanh Tuấn, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

2. Trần Thị Thanh Hiền, sinh năm: 1967 (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Số 108/2, khóm 1, phường 3, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng

Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 05/11/2019 Trần Thanh Tuấn điều khiển xe môtô biển số 66N1-

6924 từ nhà đến địa phận huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh để dự đám giổ nhà ngoại của bạn gái P (P đã đến trước). Đến khoảng 07 giờ ngày 06/11/2019 Tuấn điều khiển xe môtô 66N – 6924 chở P về nhà. Trên đường về do hết tiền tiêu xài nên Tuấn rủ P tìm gà bắt trộm bán lấy tiền tiêu xài, P đồng ý. Khi đến trước nhà ông Trương Minh Hiếu thấy nhà khóa cửa và bên hông nhà có 05 con gà trống tre đang nhốt trong bội và trong lồng bằng kim loại. Lúc này Tuấn dừng xe lại, P vào bắt trộm 01 con gà trống tre, Tuấn đi vào bắt trộm 02 con gà trông tre. Khi đó ông Hiếu và người dân phát hiện bắt quả tang.

Qua trình điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tang

vật thu giữ gồm:

- 01 con gà trống tre, lông màu đỏ - đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,1kg.

- 01 con gà trống tre, lông màu đỏ - đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,5kg.

- 01 con gà trống tre, lông màu trắng đen, chân màu vàng, trọng lượng 1,3kg

- 01 P tiện xe môtô biển số 66N1- 6924.

Tại bản kết luật định giá tài sản số 45/KLĐGTS, ngày 28/11/2019 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mang Thít xác định giá trị 01 con gà trống tre, lông màu đỏ đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,1kg, có giá trị 110.000đ, 01 con gà trống tre, lông màu đỏ - đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,5kg, có giá 150.000đ, 01 con gà trống tre, lông màu trắng – đen, chân màu vàng, trọng lượng có giá trị 130.000đ. Tổng tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 390.000đ.

Đối với Trần Thanh Tuấn hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang thít ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại phiên tòa bị cáo Trương Hồng P trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo về

tội “Trộm cắp tài sản” là đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bản thân không có tiền tiêu xài trên đường từ Trà Vinh về Đồng Tháp nên mới trộm tài sản của ông Hiếu, hiện tài sản đã giao trả cho bị hại, người bị hại cũng không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2020 của Viện

kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít đã truy tố bị cáo Trương Hồng P, về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: sau khi nêu

hành vi phạm tội của bị cáo, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, 5 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54,

Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Hồng P mức án từ 03 đến 06 tháng tù. Về tội “Trộm cắp tài sản”.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại, bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp

luật, bị cáo ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để ở nhà phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra,

truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ

quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện khoảng 07 giờ, ngày 06/11/2019 bị cáo Trương Hồng P có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là gà trống tre của người bị hại Trương Minh Hiếu, thì bị phát hiện và bắt quả tang. Do đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trương Hồng P phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi

của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gây mất trật tự trị an ở địa P, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm phạm tội của bị cáo là

nguy hiểm, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành xong, do không có tiền tiêu xài Trần Thanh Tuấn rủ bị cáo tìm gà bắt trộm bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo đồng ý, thấy nhà ông Hiếu khỏa cửa và bên hông nhà có 05 con gà trống tre đang nhốt trong bội và lồng bằng kim loại, Tuấn vào bắt trộm 02 con gà trống tre, bị cáo bắt 01 con gà trống tre, thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, đáng lẽ ra bị cáo phải biết chí thú làm ăn, lo cho bản thân và gia đình, ngược lại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Hiếu, chứng tỏ bản chất khó cải tạo. Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KLĐGTS, ngày 28/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mang Thít xác định giá trị 01 con gà trống tre, lông màu đỏ đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,1kg, có giá trị 110.000đ, 01 con gà trống tre, lông màu đỏ

- đen, chân màu xanh, trọng lượng 1,5kg, có giá 150.000đ, 01 con gà trống tre, lông màu trắng – đen, chân màu vàng, trọng lượng có giá trị 130.000đ. Tổng tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 390.000đ, là chưa tới mức định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do bản thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, mà còn vi phạm, nên căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bổ sung năm 2017, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và

tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, phạm tội ít nghiêm trọng, người bị hại đã nhận lại tài sản, gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều

54, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Hồng P 03 (Ba) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị

bắt đi chấp hành bản án.

2. Về bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem

xét.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Hồng P phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án

phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: AÙn xöû công khai sô thaåm, baùo cho bò caùo

biết, ñöôïc quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo cũng 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hay từ ngày niêm yết bản án tại chính quyền địa P nơi cư trú./.

Cỡ chữ