vanban.org

Bản án 08/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 03/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc H (tên gọi khác:V), Phùng Cao L (tên gọi khác: C) đều phạm tội “T chức đánh bạc”.

Xử phạt: Nguyễn Quốc H (tên gọi khác: V) 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính kể từ ngày tuyên án (ngày 03/3/2020). Xử phạt: Phùng Cao L (tên gọi khác: C) 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "H-L - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc H (tên gọi khác:V), Phùng Cao L (tên gọi khác: C) đều phạm tội “T chức đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HSST.
Ngày: 03- 3 -2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Anh Trí.

2. Bà Phan Thị Nhâm.

- Thư ký phiên tòa:Bà Đặng Thị Lài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: ÔngTrần Văn Sang – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2019/HS.ST ngày 31/12/2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HS ngày 30/01/2020; Quyết định Hoãn phiên tòa số 01/2020/HSST - QĐ ngày 10/02/2020 đối với các bị cáo:

1/ NGUYỄN QUỐC H - Tên gọi khác: V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984; Nơi sinh: Huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 01, xã H, huyện H2, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn:12/12; Cha: Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Buôn bán; Mẹ: Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Làm nông. Cả hai trú tại thôn 01, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 05 anh em, bị cáo Huy là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Làm nông; Trú tại thôn 01, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận; Con: Có 2 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010;Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú số 01 ngày 03/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Bị cáo có mặt.

2/ PHÙNG CAO L - Tên gọi khác: Chàm; Giới tính:Nam; Sinh năm: 1994; Nơi sinh: Huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 01, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc Tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông;Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Phùng Văn M, sinh năm 1971; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974. Cả hai làm nông, trú tại thôn 01, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có 02 anh em, bị cáo L là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú số 02 ngày 03/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Toàn H – sinh năm 1984;

2/ Lê Tấn V – sinh năm 1991;

3/ Trương Phi H – sinh năm 1982;

4/ Nguyễn Minh D – sinh năm 1987;

5/ Trần Thanh B – sinh năm 1980;

6/ Trần Hữu T – sinh năm 1987;

7/ Nguyễn Thị H – sinh năm 1974;

8/ Lê Hoàng D – sinh năm 1995;

9/ Nguyễn Duy T – sinh năm 1996;

10/ Huỳnh Ngọc Á – sinh năm 1986;

11/ Phan Văn H – sinh năm 1991;

12/ Nguyễn Khắc P – sinh năm 1987;

13/ Trần Minh P – sinh năm 1996;

14/ Đỗ Thành L – sinh năm 1994;

15/ Lê Quyết X – sinh năm 1978; Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận.

16/ Nguyễn H – sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

17/ Kiều Thị Mỹ T – sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

18/ Nguyễn Quang H – sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn 4, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.

Người làm chứng:

1/ Nguyễn Ngọc N – sinh năm 1962;

2/ Phùng Văn M– sinh năm 1971;

3/ Nguyễn Thị M – sinh năm 1969;

4/ Nguyễn Văn T – sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận.

Tất cả người làm chứng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lúc 23 giờ 50 phút ngày 05/6/2019, T công tác của Công an huyện Hàm Thuận Bắc phối hợp với Công an xã Hàm Đức kiểm tra, phát hiện tại khu vực đất vườn thanh long của gia đình Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1960, ở thôn 1, xã Hàm Đức có nhiều người đang đánh bạc, dưới hình thức “Xóc dĩa” thắng - thua bằng tiền, gồm: Nguyễn Toàn H, sinh năm 1984; Trần Hữu T, sinh năm 1987; Nguyễn Minh D, sinh năm 1987; Trần Thanh B, sinh năm 1980; Trương Phi H, sinh năm 1982; Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 cùng trú tại thôn 1, xã Hàm Đức và Nguyễn H, sinh năm 1981, trú tại khu phố P, thị trấn P. Ngoài ra, trước đó còn có các đối tượng đánh bạc khác, gồm: Lê Tấn V, sinh năm 1991; Trần Minh P, sinh năm 1996; Nguyễn Khắc P, sinh năm 1987; Phan Văn H, sinh năm 1991; Lê Hoàng D, sinh năm 1995; Huỳnh Ngọc Á, sinh năm 1986; Nguyễn Duy T, sinh năm 1996; Đỗ Thành L, sinh năm 1994 ở cùng thôn 1, Nguyễn Quang H, sinh năm 1977 ở thôn 4 cùng xã H và Kiều Thị Mỹ T, sinh năm 1980 ở thôn L, xã H.

Thu giữ trên sòng “Xóc dĩa” số tiền 6.450.000 đồng, gần chiếu bạc số tiền 690.000 đồng, trong người của các đối tượng đánh bạc 6.993.000 đồng, 08 điện thoại di động các loại, 12 xe mô tô và các dụng cụ dùng cho việc đánh bạc.

Quá trình điều tra xác định: Vào các đêm trước ngày 05/6/2019, Nguyễn Quốc H (V), sinh năm 1984 sử dụng đất vườn thanh long của cha ruột là Nguyễn Ngọc N để cùng Phùng Cao L (C), sinh năm 1994 ở cùng thôn 01, xã Hàm Đức cung cấp bạt, điện, dụng cụ chơi “Xóc đĩa” gồm: chén, đĩa, đồng dị (nhị) được cắt ra từ các lá bài Tây cho nhiều đối tượng khác trong và ngoài địa phương tập trung đánh bạc, mục đích thu tiền xâu.

Hình thức t chức đánh bạc được quy định như sau: Bộ dụng cụ dùng xóc đĩa là 01 chén, 01 đĩa và 04 đồng dị (nhị) hình tròn được cắt ra từ các lá bài Tây 52 lá, người xóc cái bỏ 04 đồng dị vào trong đĩa, úp chén lên để xóc, sau đó đặt xuống, các con bạc tùy ý đặt cược vào hai bên chẵn hoặc lẻ trên chiếu bạc, mức đặt cược không hạn chế tùy thuộc vào người đánh. Khi không còn ai đặt cược, thì người đánh bạc bất kỳ là ai đều được mở chén, người xóc không mở chén và khi mở chén, nếu có 02 hoặc 04 đồng dị ngửa hoặc sấp giống nhau là chẵn, nếu có 01 hoặc 03 đồng dị ngửa, sấp giống nhau là lẻ, tỷ lệ thắng - thua là 1:1, tức là người đánh đặt bao nhiêu tiền, nếu thắng thì người mở chén là người làm cái của ván đó trả bấy nhiêu. Lê Tấn V và Nguyễn Ngọc V chỉ xóc cái không mở chén, số tiền thắng, thua mỗi ván do Lê Tấn V lấy tiền từ người thua để trả cho người thắng, trung bình mỗi ván số tiền đánh bạc của 02 bên chẵn và lẻ từ 500.000 đồng đến 600.000 đồng. Việc thu tiền xâu được Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L đặt ra như sau: Nếu kết quả khi mở chén của ván đó mà có 04 đồng dị úp hoặc ngữa, thì người thắng ván đó phải nộp tiền xâu, tỷ lệ tiền xâu là 1/10, tức là 100.000 đồng thu 10.000 đồng, 1.000.000 đồng thu 100.000 đồng. Mỗi đêm, Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L thu xâu khoảng 600.000 đồng.

Số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa vào ngày 05/6/2019 được xác định như sau:

Nguyễn Toàn H dùng 200.000 đồng đánh bạc, đánh thắng 400.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 600.000 đồng.

Trần Hữu T sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, đánh không thắng, không thua. Số tiền đánh bạc là 300.000 đồng.

Nguyễn Minh D sử dụng 700.000 đồng đánh bạc, đánh thua hết. Số tiền đánh bạc là 700.000 đồng.

Trần Thanh B sử dụng 200.000 đồng đánh bạc, đánh thua hết. Số tiền đánh bạc là 200.000 đồng.

Nguyễn H sử dụng 2.100.000 đồng đánh bạc, đánh thua hết. Số tiền đánh bạc là 2.100.000 đồng. Trong lúc đánh bạc H có cầm thế xe mô tô biển số 86H6-5454 cho Nguyễn Quốc H để lấy 1.800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Trương Phi H sử dụng 1.000.000 đồng để tham gia đặt cược, thua hết 900.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng.

Nguyễn Thị H sử dụng 100.000 đồng đánh bạc, thua hết 100.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 100.000 đồng.

Nguyễn Khắc P sử dụng 430.000 đồng đánh bạc, thua hết 410.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 430.000 đồng.

Trần Minh P sử dụng 1.000.000 đồng đánh xóc đĩa thua hết. Số tiền đánh bạc là 1.000.000 đồng.

Đỗ Thành L sử dụng 800.000 đồng đánh bạc thua hết 400.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 800.000 đồng.

Nguyễn Quang H sử dụng 200.000 đồng đánh bạc thua hết. Số tiền đánh bạc là 200.000 đồng.

Lê Tấn V sử dụng 700.000 đồng đánh bạc, đánh thắng 600.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 1.300.000 đồng.

Lê Hoàng D sử dụng 300.000 đồng đánh bạc, thắng 150.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 450.000 đồng.

Huỳnh Ngọc Á sử dụng 200.000 đồng đánh bạc thua hết. Số tiền đánh bạc là 200.000 đồng.

Nguyễn Duy T sử dụng 500.000 đồng đánh bạc, thua 300.000 đồng đồng. Số tiền đánh bạc là 500.000 đồng.

Phan Văn H sử dụng 300.000 đồng đánh bạc thua hết 150.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 300.000 đồng.

Kiều Thị Mỹ T sử dụng 350.000 đồng đánh bạc thua hết. Số tiền đánh bạc là 350.000 đồng.

Riêng, Nguyễn Ngọc V (Cu đỏ) đã bỏ trốn, nên không xác định được số tiền đánh bạc.

T ng số tiền đánh bạc là: 10.530.000 đồng.

Ngoài ra, trước đêm ngày 05/6/2019 Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L còn nhiều đêm t chức cho nhiều người đánh bạc để thu tiền xâu nhưng cơ quan điều tra không chứng minh được cụ thể hành vi phạm tội của các lần đó. T ng số tiền hưởng lợi bất chính là: 6.000.000 đồng chia nhau: Phùng Cao L là 2.000.000 đồng, Võ Xuân L là 300.000 đồng, còn lại 3.700.000 đồng Nguyễn Quốc H sử dụng cá nhân.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

Thu giữ tại sòng bạc: 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 tấm bạt (loại bạt được cắt ra từ các bao đựng lúa), 01 chén nhựa màu xanh, 01 đĩa sứ, 01 bóng đèn thắp sáng cùng cuộn dây điện, 08 đồng nhị, 12 xe mô tô có biển số 86S1-8865, 86K6-7412, 86B3-038.97, 86B3-053.81, 86T2-7147, 86T3-1072, 86T1-7565, 86T3-1574, 86H7-7577, 86C1-87.620, 86H6-5454 và 01 xe mô tô loại dream, không gắn biển số của các con bạc; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại chiếu bạc 6.450.000 đồng và gần chiếu bạc số tiền 690.000 đồng. T ng cộng thu giữ là 7.140.000 đồng.

Thu giữ trên người các đối tượng gồm: Nguyễn Minh D số tiền 51.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu MI; Nguyễn Toàn H số tiền 4.230.000 đồng và 02 điện thoại di động (01 loại Iphone 5 và 01 Iphone 7 plus); Trần Hữu T số tiền 527.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105; Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Nokia 105; Nguyễn H số tiền 2.070.000 đồng và 01 điện thoại di động Masstel; Trương Phi H số tiền 115.000 đồng và 01 điện thoại di động Masstel; Trần Thanh B 01 điện thoại di động Nokia 130. T ng số tiền 6.993.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho: Nguyễn Minh D 51.000 đồng, Nguyễn Toàn H 3.630.000 đồng, Trần Hữu T 527.000 đồng, Nguyễn H 2.070.000 đồng, Trương Phi H 15.000 đồng; t ng cộng 6.293.000 đồng, còn lại 700.000 đồng là tiền dùng đánh bạc cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ. Đồng thời trao trả 08 điện thoại di động và 12 chiếc xe mô tô nêu trên cho các chủ sở hữu.

Nguyễn Quốc H tự nguyện giao nộp 3.700.000 đồng và Phùng Cao L giao nộp 2.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính;

T ng số tiền thu giữ: 13.540.000 đồng.

Toàn bộ số vật chứng trên, Viện kiểm sát đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSHTB-HS ngày 31/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Nguyễn Quốc H , về tội “T chức đánh bạc” theo Điểm a, d Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; Bị cáo Phùng Cao L , về tội “T chức đánh bạc” theo Điểm a Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm a, d Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Phạt Nguyễn Quốc H từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Phạt Phùng Cao L từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi ) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H1nơi các bị cáo H và L cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Áp dụng Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu giữ tại sòng 7.140.000 đồng và 600.000đ của Nguyễn Toàn H và 100.000đ của Trương Phi H là tiền dùng để đánh bạc. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền của các bị cáo đã nộp gồm H 3.700.000 đồng, L 2.000.000 đồng và tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 05/6/2019 Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L t chức đánh bạc, dưới thình thức “Xóc dĩa” thắng - thua bằng tiền tại thôn 01, xã Hàm Đức cho hơn 20 người đánh với nhau. Nguyễn Quốc H cùng Phùng Cao L đã cung cấp chén, đĩa, đồng nhị và bạt trải dưới đất. Ngoài ra, tại nơi đánh bạc Nguyễn Quốc H còn cầm cố tài sản cho các con bạc, tạo điều kiện cho người đánh bạc, đánh thắng thua bằng tiền để thu tiền xâu. Đến khoảng 23 giờ 50 phút ngày 05/6/2019, thì bị T công tác của Công an huyện Hàm Thuận Bắc phối hợp với Công an xã Hàm Đức kiểm tra, phát hiện. T ng số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 7.140.000 đồng.

Nguyễn Quốc H đã t chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà t ng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên, có t chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc, nên đã phạm vào tội “T chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phùng Cao L cùng Nguyễn Quốc H đã t chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà t ng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên, nên đã phạm vào tội “T chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, Nguyễn Quốc H có ông ngoại tên Nguyễn Văn D là liệt sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp chống mỹ cứu nước, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ tính chất và mức độ phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo đều ở tu i thanh niên, có sức khỏe nhưng không lao động để có thu nhập chính đáng mà ngược lại muốn có nhiều tiền bằng cách t chức sát phạt để nhiều người tham gia với nhau. Đây là một tệ nạn xã hội dẫn đến các hậu quả xấu và các tiêu cực khác trong xã hội, hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường kỷ cương pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương là nguy hiểm cho xã hội.

Đối với Nguyễn Quốc H là người khởi xướng đã bàn bạc với bị cáo L thực hiện hành vi t chức đánh bạc. Bị cáo H là người trực tiếp chuẩn bị các công cụ để đánh bạc, tạo điều kiện cho các con bạc tham gia đánh bạc nhằm mục đích thu lợi từ tiền xâu mỗi đêm 600.000đồng, ngoài ra H còn t chức cầm thế xe, tạo điều kiện cho các con bạc tham gia đánh bạc. Do đó, cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo Phùng Cao L tham gia với vai trò là người giúp sức cho Nguyễn Quốc H t chức đánh bạc, làm nhiệm vụ thu tiền xâu nên là đồng phạm và phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Do đó, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền thu giữ tại sòng bạc không nhiều, các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, nên cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi các bị cáo cư trú quản lý, giáo dục là đủ.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo. Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt b sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không phạt hình phạt b sung.

[6] Về xử lý vật chứng và dân sự:

Thu giữ trong người các đối tượng đánh bạc 6.993.000 đồng, 08 điện thoại di động các loại, 12 xe mô tô và các dụng cụ dùng cho việc đánh bạc gồm: Nguyễn Minh D số tiền 51.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu MI; Nguyễn Toàn H i số tiền 4.230.000 đồng và 02 điện thoại di động (01 loại Iphone 5 và 01 Iphone 7 plus); Trần Hữu Tài số tiền 527.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105; Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Nokia 105; Nguyễn H số tiền 2.070.000 đồng và 01 điện thoại di động Masstel; Trương Phi H số tiền 115.000 đồng và 01 điện thoại di động Masstel; Trần Thanh B 01 điện thoại di động Nokia 130.

Trong quá trình điều tra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định số tiền đánh bạc cụ thể của Nguyễn Toàn H là 600.000 đồng, Trần Hữu T là 300.000 đồng, Nguyễn Minh D là 700.000 đồng, Trần Thanh B là 200.000 đồng, Nguyễn Hân là 2.100.000 đồng. Trong lúc đánh bạc Hân có cầm thế xe mô tô biển số 86H6-5454 cho Nguyễn Quốc H để lấy 1.800.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc,Trương Phi H là 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị H là 100.000 đồng, Nguyễn Khắc P là 430.000 đồng,Trần Minh P là 1.000.000 đồng, Đỗ Thành L là 800.000 đồng, Nguyễn Quang H là 200.000 đồng, Lê Tấn V là 1.300.000 đồng, Lê Hoàng D là 450.000 đồng, Huỳnh Ngọc Á là 200.000 đồng, Nguyễn Duy T là 500.000 đồng, Phan Văn H là 300.000 đồng, Kiều Thị Mỹ T là 350.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho: Nguyễn Minh D 51.000 đồng, Nguyễn Toàn H 3.630.000 đồng, Trần Hữu T 527.000 đồng, Nguyễn H 2.070.000 đồng, Trương Phi H 15.000 đồng; t ng cộng 6.293.000 đồng, còn lại 700.000 đồng là tiền dùng đánh bạc sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 08 điện thoại di động và 12 xe mô tô có biển số 86S1-8865, 86K6-7412, 86B3-038.97, 86B3-053.81, 86T2-7147, 86T3-1072, 86T1-7565, 86T3-1574, 86H7-7577, 86C1-87.620, 86H6-5454 và 01 xe mô tô loại dream, không gắn biển số nêu trên, cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho các chủ sở hữu là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với số tiền đang tạm giữ t ng cộng 13.540.000đồng theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 07/01/2020 gồm số tiền thu tại sòng xóc dĩa là 7.140.000đồng, 700.000đồng tiền H và H dùng để đánh bạc, 5.700.000đ tiền thu lợi bất chính từ việc t chức đánh bạc do bị cáo H và bị cáo L nộp sẽ được tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Các dụng cụ để đánh bạc thu giữ tại sòng gồm 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 tấm bạt (loại bạt được cắt ra từ các bao đựng lúa), 01 chén nhựa màu xanh, 01 đĩa sứ, 01 bóng đèn thắp sáng cùng cuộn dây điện, 08 đồng nhị. Tất cả các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2020 đều là công cụ để t chức đánh bạc, có liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Nguyễn Toàn H, Trần Hữu T, Nguyễn Minh D, Trần Thanh B, Nguyễn H, Trương Phi H, Nguyễn Thị H, Nguyễn Khắc P, Trần Minh P, Đỗ Thành L, Nguyễn Quang H, Lê Tấn V, Lê Hoàng D, Huỳnh Ngọc Á, Nguyễn Duy T, Phan Văn H, Kiều Thị Mỹ T có hành vi tham gia đánh bạc, nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đồng và không có tiền án, tiền sự về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự, nên Công an huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận không khởi tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Riêng Nguyễn Ngọc N không biết Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L t chức đánh bạc tại vườn thanh long của mình, nên không đồng phạm.

Đối với Lê Tấn V (Bé hai), là người trực tiếp xóc cái cho các con bạc tham gia đánh bạc, nhưng Lê Tấn V tự ý xóc cái, không ai rủ rê hoặc phân công vai trò cho Vinh, nên Vinh không đồng phạm với vai trò giúp sức.

Đối với người tên Nguyễn Ngọc V (Cu đỏ) và Võ Xuân L (Út) ở thôn 01, xã Hàm Đức. Hiện tại không có mặt tại địa phương, chưa đủ căn cứ để xác định đã giúp canh gác và trông coi xe cho Nguyễn Quốc H và Nguyễn Ngọc V là người trực tiếp xóc cái, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Đối với số tiền 1.800.000đ bị cáo H đưa cho H thế chấp xe mô tô để đánh bạc.Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay H không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm a, d Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với Nguyễn Quốc Huy).

Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự (đối với Phùng Cao Long).

Căn cứ Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc H (tên gọi khác:V), Phùng Cao L (tên gọi khác: C) đều phạm tội “T chức đánh bạc”.

- Xử phạt: Nguyễn Quốc H (tên gọi khác: V) 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính kể từ ngày tuyên án (ngày 03/3/2020).

- Xử phạt: Phùng Cao L (tên gọi khác: C) 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính kể từ ngày tuyên án (ngày 03/3/2020).

Giao các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phùng Cao cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nơi các bị cáo H và L cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Quốc H và Phùng Cao L thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và t ng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 02 tấm bạt (loại bạt được cắt ra từ các bao đựng lúa), 01 chén nhựa màu xanh, 01 đĩa sứ, 01 bóng đèn thắp sáng cùng cuộn dây điện, 08 đồng nhị. Tất cả các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2020.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền t ng cộng 13.540.000đồng theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 07/01/2020 gồm số tiền thu tại sòng xóc dĩa là 7.140.000đồng, 700.000đồng tiền H và H dùng để đánh bạc, 5.700.000đ tiền thu lợi bất chính từ việc t chức đánh bạc do bị cáo Huy và bị cáo Long nộp sẽ được tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền t ng cộng 13.540.000đồng theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 07/01/2020 để đảm bảo việc thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phùng Cao L mỗi người phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/3/2020). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết tại địa phương.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ