vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sĩ Quốc T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày 21-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Thành;

2. Ông Trần Quang Mẫn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Ngô Anh Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/HSST ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Sĩ Quốc T, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CMND: 025546159 do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/11/2011; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 576/2 đường Q, Phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 1369/23/1 đường L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Chưa biết tên cha; Mẹ Nguyễn Hồng K; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 12/10/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ ngày 11/10/2019, Nguyễn Sĩ Quốc T vào quán bar DC, số 148 Cống Quỳnh để dự sinh nhật của một người bạn tên Đức (quen biết ngoài xã hội). Sau đó, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T gặp một nhân viên phục vụ (không rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy với giá 900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T lấy một ít cho vào trong ly thủy tinh để trên bàn rồi sử dụng, số ma túy còn lại T cất giữ vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 12/10/2019, tổ công tác Công an Quận 1 gồm các anh Nguyễn Hoàng N, Nguyễn Mạnh C (Công an Quận 1), anh Đoàn Văn N1 (bảo vệ dân phố phường Phạm Ngũ Lão) kiểm tra tại bàn Vip 7 trong quán thu giữ trên tay trái của T đang cầm một ly thủy tinh bên trong chứa chất bột màu trắng, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của T đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (T khai là ma túy) nên các anh N, C, N1 liền thu giữ vật chứng bắt giữ T đưa về Công an phường Phạm Ngũ Lão lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý (BL26, 27).

Theo bản kết luận giám định số 1919/KLGĐ-H ngày 18/10/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau:

- Gói 1: Bột màu trắng trong một gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Sĩ Quốc T, Đoàn Văn N1 (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5121 gam ma túy loại Ketamine;

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Sĩ Quốc T, Đoàn Văn Nhật (người chứng kiến) và hình dấu Công an phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5513 gam ma túy loại Ketamine (BL 20);

Đối với người thanh niên bán ma túy cho T không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét khi nào làm rõ sẽ được sẽ xử lý sau.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Nguyễn Sĩ Quốc T đã khai nhận như nêu ở trên phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu thập được.

Vật chứng: 02 gói niêm phong bên trong chứa chất bột màu trắng có là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0634 gram ma túy loại Ketamine; 01 ly thủy tinh (Bút lục: 22 đến 25)

Thu giữ của Nguyễn Sĩ Quốc T: 01 điện thoại di động hiệu Huawei đã qua sử dụng; Số tiền 500.000 đồng. Tất cả các vật chứng trên hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKSQ1 ngày 31 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 ly thủy tinh, đối với 01 điện thoại di động và số tiền 500.000 đồng trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định số 1919/KLGĐ – H ngày 18/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Sĩ Quốc T là đối tượng nghiện ma túy và đã có hành vi cất giữ 1,0634 g (một phẩy không sáu ba bốn gam), ma túy ở thể rắn loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được qui định tại điểm g Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Do nghiện ma túy nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mua ma túy về để sử dụng. Đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu Hội đồng xét xử áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ lai lịch và hành vi của đối tượng đã cung cấp ma túy cho bị cáo sử dụng, khi nào có đủ cơ sở tiếp tục xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei và số tiền 500.000 đồng, các tài sản trên của cá nhân bị cáo và không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo khả năng thi hành án. Đối với 01 ly bằng thủy tinh và 02 gói ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm g Khoản 1, Khoản 5 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Nguyễn Sĩ Quốc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 21/01/2020.

Phạt bị cáo Nguyễn Sĩ Quốc T số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei, số Imel: 862966040449182, số Imel: 862966040479197 và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 02 gói ma túy đã niêm phong bên ngoài ghi số vụ 1919/2019 (1) và 1919 (2) và 01 ly bằng thủy tinh. (Phiếu nhập kho vật chứng số 348/19-PNK ngày 20/11/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số 333/19-PNK ngày 05/11/2019 của Công an Quận 1)

- Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ