vanban.org

Bản án 08/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Chƣa đạt).

năm 2015; Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Phạm Đình C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Dinh Cuong - Trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Chƣa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 08/2018/HSST
Ngày 11-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Nguyệt Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ngọc;

Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 379/2017/HSST ngày 08 tháng 12 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 476/2017/HSST-QĐ ngày 26 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Đình C, sinh năm 1986 tại tỉnh N; thƣờng trú: Khối 10, thị trấn T, huyê ̣n T, tỉnh N; chỗ ở : Khu phố T, phƣờ ng D, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Phạm Đình T (chết) và bà Phan Thi ̣ N , sinh năm 1961; vợ tên Đă ̣ng Thi ̣ Thanh T , sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2014; bị cáo có 05 chị em, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bi ̣ ta ̣m giam tƣ̀ ngày 06/10/2017. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn D , sinh năm 1985; thƣờng trú : Thôn 5, xã Đ, huyê ̣n H, tỉnh T; tạm trú: Số 37/12 (số cũ 77/3D), khu phố B , phƣờ ng A, thị xã D , tỉnh B. Vắng mă ̣t.

Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan : Ông Trần Thanh T , sinh năm 1979; thƣờ ng trú: Ấp 2A, xã T, huyê ̣n C, Thành phố H. Vắng mă ̣t.

Người làm chứng:

1. Ông Pha ̣m Minh Đ , sinh năm 1983; chỗ ở : Số 37/12 (số cũ 77/3D), khu phố B, phƣờ ng A, thị xã Di, tỉnh B. Vắng mă ̣t;

2. Ông Pha ̣m Hoài T , sinh năm 1982; thƣờ ng trú : Thôn T, xã S, huyê ̣n C, tỉnh B; chỗ ở : Số 37/12 (số cũ 77/3D), khu phố B, phƣờ ng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mă ̣t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Đình C là đối tƣợng không có nghề nghiệp ổn định , do thiếu tiền tiêu xài nên C chuẩn bi ̣ 01 đầu đoản bằng kim loa ̣i và 01 lƣỡi cƣa sắt mu ̣c đich đi tìm xe mô tố của ngƣời dân để trộm . Khoảng 02 giờ ngà y 06/10/2017, Phạm Đình C đến trƣớc dãy nhà trọ tại 37/12, khu phố B, phƣờ ng A, thị xã D, tỉnh B, C nhìn thấy trƣớc phòng trọ số 3 có dƣ̣ng 01 xe mô tô hiê ̣u SINUDA biển số 51Y9-5567 nhƣng không có ngƣờ i trông coi. Do day nhã

̀ tro ̣ không khóa cƣ̉ a mà chi cỏ ́ ổ khóa móc bên ngoài , C mở cƣ̉ a đi vào và lấy ổ khóa móc phia ngoài phòng tro ̣ số 3 nhằm tránh bi ̣ chủ trọ phát hiê ̣n. C

́ dùng đoản bẻ khóa xe nhƣng do xe có dâ y cáp khóa bánh sau nên C tiếp tu ̣c dùng cƣa sắt để cƣa dây cáp khóa . Trong khi C đang cƣa dây cáp thi bi ̣̀ nhƣ̃ng ngƣờ i trong daỹ trọ phát hiện bắt giữ và giao nộp cho Công an phƣờng A, thị xã D xƣ̉ lý.

Vâ ̣t chƣ́ ng thu giƣ̃ gồm: 01 xe mô tô hiê ̣u SINUDA biển số 51Y9-5567, số máy 002738, số khung 002738; 01 lƣỡi cƣa sắt bằng kim loa ̣i dài 30cm, 01 đầu đoản bằng kim loa ̣i đƣợc mài nhỏ một đầu dài khoảng 10cm, 01 dây khóa bằng kim loa ̣i da ̣ng cáp dài 02m.

Theo kết luận định giá số 267/BB.ĐG ngày 11/10/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là một xe môtô hiệu Sinuda , số khung 002738, số máy 002738 biển số 51Y9-5567 trị giá 3.600.000 đồng đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại, ngƣờ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 267/BB.ĐG ngày 11/10/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.

Tại cáo trạng số 01/QĐ - KSĐT ngày 08 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Phạm Đình C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 và Điều 18 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 15 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Đình C mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình C không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/10/2017, Phạm Đình C đa cõ ́ hành vi lén lút chiếm đoa ̣t mô ̣t xe môtô hiệu Sinuda biển số 51Y9-5567 của ngƣời bị hại Nguyễn Văn D, tài sản bi ̣ chiếm đoa ̣t tri ̣ giá 3.600.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo Phạm Đình C chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có giá trị 3.600.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Phạm Đinh C thực hiệǹ tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Đình C không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 tƣơng ƣ́ ng với các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp phạm tội chƣa đạt đƣợc quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên cũng cần xem xét tình tiết này cho bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết đi ̣nh hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng điểm h , i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khó a 14; khoản 1 Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015. Theo đó khung hinh pha ̣̀

t của tô ̣i trô ̣m cắp tài sản quy đi ̣nh tại Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣̀

năm 2015 quy đi ̣nh mƣ́ c pha ̣t tù nhe ̣ hơn khung hinh pha ̣ t quỳ đi ̣nh ta ̣i Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣̀

năm 1999. Do đó cần xem xét áp du ̣ng điều luâ ̣t theo hƣớ ng có lợi cho bi ̣ cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại, tại cơ quan điều tra, ngƣời bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng : Vâ ̣t chƣ́ ng trong vu ̣ án là 01 lƣỡi cƣa sắt bằng kim loa ̣i dài 30cm, 01 đầu đoản bằng kim loa ̣i đƣợc mài nhỏ mô ̣t đầu dài khoảng 10cm do bi ̣ cáo Phạm Đình C sƣ̉ du ̣ng làm phƣơng tiê ̣n pha ̣m tô ̣i và 01 dây khóa bằng kim loa ̣i dạng cáp dài 02m. Xét các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Đình C phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đình C phạm tội “Trộm cắp tài sản” (Chƣa đạt).

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t hinh sƣ̣̀

năm 2015; Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Phạm Đình C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2017.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Đình C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (Mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ