- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Việt Nghiên N - Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Việt Nghiêm N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:07/2026/HS-ST Ngày: 06/3/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trương Thanh Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Hồng Gái.
2. Ông Trần Văn Phước.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 4 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 3 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang. Tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2026.
Đối với bị cáo: Trần Việt Nghiêm N, sinh ngày 08/10/2000; Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã M, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa:12/12; Con ông Trần Việt L và bà Trần Thị H; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người con lớn trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không có.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13 tháng 12 năm 2025 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Ông Danh Thanh T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh An Giang.
2. Ông Châu Hùng A, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 12 năm 2025, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân nghi vấn bị cáo Trần Việt Nghiêm N thực hiện hành vi tàng trữ ma túy nên Công an xã M, tỉnh An Giang phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh an G tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng.
Qua làm việc, bị cáo N khai nhận: Khoảng 01 giờ ngày 13/12/2025, N thuê xe Honda khách của một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) chở từ nhà đến khu vực phường R, tỉnh An Giang để gặp người thanh niên tên T1 (không rõ họ và địa chỉ cụ thể, quen biết qua mạng xã hội facebook) mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, N trả tiền công 100.000, rồi N đi bộ khoảng 50 mét gặp T1 đeo khẩu trang nên N hỏi mua 700.000 đồng ma túy thì Tính giao 01 bịch nylon bên trong chứa ma túy cho N cất giấu vào túi quần. Sau đó, T1 bỏ đi, N thuê xe Honda khách của một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) chở về nhà, Nam trả tiền công 100.000 đồng. Sau đó, N vào phòng ngủ riêng của N chiết ra một phần ma túy bỏ vào dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng, phần ma túy còn lại N cất giấu để sử dụng lần tiếp theo. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và lập biên bản tạm giữ tang vật, vật chứng gồm;
- 01 chai thủy tinh cao 13,5cm, phần đáy chai có đường kính kích thước 04cm, có gắn 01 nỏ thủy tinh được uống cong dài 20cm, trong ống nỏ có chứa chất bám dính nghi là ma túy, phần đầu chai thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 22,5cm.
- 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5cm, một đầu cắt ngang, một đầu vát; 01 bật lửa bằng nhựa màu đỏ, kích thước 8,0 x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước 11,5cm x 4,5cm; 01 bịch nylon trong suốt hàn kín, kích thước 4,6cm x 2,5cm, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất nghi là ma túy.
Tại Bản Kết luận giám định số 1520/KL-KTHS ngày 17/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh G, kết luận:
- Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4325 gam.
- Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất chứa bên trong 01 (một) nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0949 gam.
Tại Bản cáo trạng số 25/CT-VKS-KV4 ngày 11/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang đã truy tố bị cáo Trần Việt Nghiêm N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 4, tỉnh An Giang; giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Việt Nghiêm N mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm; 01 chai thủy tinh cao 13,5cm, phần đáy chai có đường kính kích thước 04cm, có gắn 01 nỏ thủy tinh được uống cong dài 20cm, trong ống nỏ có chứa chất bám dính nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,0949gam; sau giám định còn lại 0,0336gam), phần đầu chai thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 22,5cm; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5cm, một đầu cắt ngang, một đầu vát; 01 bật lửa bằng nhựa màu đỏ, kích thước 8,0 x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước 11,5cm x 4,5cm; 01 bịch nylon trong suốt hàn kín, kích thước 4,6cm x 2,5cm, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,4325gam; sau giám định còn lại 0,3728gam).
Đối với người tên T1 bán ma túy cho bị cáo Trần Việt Nghiêm N do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiếp tục điều tra khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Việt Nghiêm N đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Thấy rằng vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 năm 2025 qua công tác kiểm tra Công an phát hiện bị cáo Trần Việt Nghiêm N đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Qua giám định ma túy thu của bị cáo Trần Việt Nghiêm N là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5274 gam.
Xét thấy lời khai của bị cáo Trần Việt Nghiêm N tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản thu giữ, giám định vật chứng... Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Việt Nghiêm N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – An Giang truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ nhận thức về năng lực và hành vi, bị cáo thừa hiểu biết rằng chất ma túy là một chất độc rất nguy hại cho những ai sử dụng nó không đúng mục đích, thừa biết như thế nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến nhận thức của tầng lớp thanh thiếu niên và làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự xã hội của địa phương. Do đó cần thiết phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm mới đủ sức răn đe và ngăn ngừa chung.
. Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên xử tịch thu tiêu hủy: 01 chai thủy tinh cao 13,5cm, phần đáy chai có đường kính kích thước 04cm, có gắn 01 nỏ thủy tinh được uống cong dài 20cm, trong ống nỏ có chứa chất bám dính nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,0949gam; sau giám định còn lại 0,0336gam), phần đầu chai thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 22,5cm; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5cm, một đầu cắt ngang, một đầu vát; 01 bật lửa bằng nhựa màu đỏ, kích thước 8,0 x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước 11,5cm x 4,5cm; 01 bịch nylon trong suốt hàn kín, kích thước 4,6cm x 2,5cm, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,4325gam; sau giám định còn lại 0,3728gam).
. Xét các đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận các đề nghị này.
Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G tiếp tục điều tra người đã bán ma túy cho bị cáo nếu có căn sẽ xử lý sau. [7] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Việt Nghiêm N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về trách nhiện hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.
Xử phạt: Bị cáo Trần Việt Nghiêm N 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13 tháng 12 năm 2025.
3. Về tang vật và vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 chai thủy tinh cao 13,5cm, phần đáy chai có đường kính kích thước 04cm, có gắn 01 nỏ thủy tinh được uống cong dài 20cm, trong ống nỏ có chứa chất bám dính nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,0949gam; sau giám định còn lại 0,0336gam), phần đầu chai thủy tinh có gắn 01 ống hút bằng nhựa màu hồng dài 22,5cm; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng dài 6,5cm, một đầu cắt ngang, một đầu vát; 01 bật lửa bằng nhựa màu đỏ, kích thước 8,0 x 2,5cm; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước 11,5cm x 4,5cm; 01 bịch nylon trong suốt hàn kín, kích thước 4,6cm x 2,5cm, bên trong có nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn, không đồng nhất nghi là ma túy (kết quả giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định 0,4325gam; sau giám định còn lại 0,3728gam).
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang (Theo biên bản giao nhận ngày 11 tháng 02 năm 2026 giữa Công an tỉnh G và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 4 – An Giang).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Việt Nghiêm N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai, có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Tòa án nhân dân tỉnh AG; - Viện kiểm sát nhân dân KV4; - Cơ quan Cảnh sát điều tra; - Chi cục Thi hành án dân sự KV4; - Bị cáo; - Lưu H/sơ. | Trương Thanh Toàn |