vanban.org

Bản án 07/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 08/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Dương Hồng Ân và Nguyễn Thái Bình cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt: Bị cáo Dương Hồng Ân 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thai Binh va dong pham - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Dương Hồng Ân và Nguyễn Thái Bình cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – AN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2026/HS-ST
Ngày : 08 - 01 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Sơn;

2. Ông Nguyễn Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 10 - tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thái Bình, sinh năm 2007, tại tỉnh An Giang; Căn cước công dân số: 089207018352; Nơi cư trú: ấp Hoà Lợi 1, xã Cần Đăng, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật Giáo Hoà Hảo; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; con ông Nguyễn Huỳnh Thái, sinh năm 1988 và bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung, sinh năm: 1988; bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án: chưa.

- Tiền sự: Ngày 13/9/2025, bị Công an xã Cần Đăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/10/2025 tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh An Giang cho đến nay.

2. Dương Hồng Ân, sinh năm 2006, tại tỉnh An Giang; Căn cước công dân số: 089206016794; Nơi cư trú: ấp Hoà Lợi 1, xã Cần Đăng, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; con ông Dương Thanh Phong, sinh năm 1974 và bà Cổ Ngọc Diềng, sinh năm: 1975; bị cáo chưa có vợ con.

- Tiền án: chưa.

- Tiền sự: Ngày 13/9/2025, bị Công an xã Cần Đăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/10/2025 tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh An Giang cho đến nay.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Huỳnh Thái, sinh năm 1988; Cư trú: ấp Hoà Lợi 1, xã Cần Đăng, tỉnh An Giang. (có mặt)

* Người làm chứng: Hồ Văn Nghĩa. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 03/10/2025, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã Cần Đăng, tỉnh An Giang tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Dương Hồng Ân, thuộc ấp Hòa Lợi 1, xã Cần Đăng, tỉnh An Giang. Qua kiểm tra, phát hiện dưới sàn nhà có mặt Ân cùng Nguyễn Thái Bình có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 01 chai nhựa trong suốt gắn nắp nhựa màu đỏ, ống hút nhựa màu vàng và nỏ thủy tinh có đầu gù (trong đầu gù có chứa tạp chất, nghi ma túy); 01 quẹt gas màu đỏ; 01 quẹt gas bên trong có 02 hột xí ngầu nên tiến hành mời Ân, Bình về làm việc.

Qua làm việc, Ân và Bình đầu thú, khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 02/10/2025, Ân, Bình bàn bạc hùn mỗi người 100.000 đồng mua ma túy sử dụng. Sau đó, Bình sử dụng ứng dụng Messenger điện cho Hồ Hữu Nghĩa hỏi mua 200.000 đồng ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, Nghĩa điều khiển xe mô tô biển số 67C1 - 820.28 đến trước nhà Ân, Bình ra nhận ma túy và 01 nỏ thủy tinh, đưa Nghĩa 200.000 đồng. Bình mang ma túy vào dưới sàn nhà Ân; Ân dùng chai nhựa gắn bo thủy tinh Bình đưa, đổ ma túy vào đầu nỏ thủy tinh, dùng quẹt gas đốt vào đầu nỏ thủy tinh và cùng với Bình sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ ngày 03/10/2025, lực lượng Công an xã Cần Đăng kiểm tra phát hiện.

Ngày 10/10/2025, Nguyễn Thái Bình, Dương Hồng Ân bị khởi tố, điều tra.

* Căn cứ Kết luận giám định số 815/KL-KTHS ngày 10/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu ở dạng vết không xác định được khối lượng.

* Căn cứ Kết luận giám định số 830/KL-KTHS ngày 12/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận:

Mẫu ký hiệu M1 gửi đến giám định có chứa thành phần chất ma túy, loại: Methamphetamine.

Mẫu ký hiệu M2 gửi đến giám định có chứa thành phần chất ma túy, loại: Methamphetamine.

Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Nguyễn Huỳnh Thái, Hồ Văn Nghĩa phù hợp nội dung vụ án.

Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Thái Bình, Dương Hồng Ân khai nhận phù hợp như nội dung vụ án.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 chai nhựa trong suốt gắn nắp nhựa màu đỏ, ống hút nhựa màu vàng và nỏ thủy tinh có đầu gù.

- 01 quẹt gas màu đỏ.

- 01 quẹt gas bên trong có 02 hột xí ngầu.

- 01 điện thoại REDMI 10, màu đen, gắn sim di động số 0379.383.474.

- 01 điện thoại OPPO A57, màu vàng, gắn sim di động số 0357.197.172.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSKV10 ngày 05/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thái Bình và Dương Hồng Ân cùng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

- Các bị cáo Bình và Ân đều thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Huỳnh Thái trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thái Bình từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Xử phạt: bị cáo Dương Hồng Ân từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giam; Về hình phạt bổ sung: Không.

+ Về trách nhiệm dân sự: Không.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Kết luận: 815/KL-KTHS ngày 10/10/2025), có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng Nam, Võ Văn Phong. Bên trong gồm có: 01 chai nhựa trong suốt, có nắp đậy mà đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 nỏ thuỷ tinh có đầu gù; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 quẹt gas bên trong có 02 hột xí ngầu; Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại OPPO A57, màu vàng, số IMEI 1: 869945064097674, số IMEI 2: 089945064097666, gắn sim di động số 0357.197.172; Trả lại cho bị cáo Ân: 01 điện thoại REDMI 10, màu đen; IMEI 1: 867208064033765, số IMEI 2: 087208064033773, gắn sim di động số 0379.383.474.

- Các bị cáo Bình và Ân không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Huỳnh Thái: không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng:

+ Bị cáo Ân: không trình bày.

+ Bị cáo Bình: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Đối với người làm chứng Hồ Văn Nghĩa có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy, người làm chứng có lời khai trong quá trình điều tra nên sự vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với nội dung diễn biến của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Có đầy đủ căn cứ xác định: Các bị cáo Nguyễn Thái Bình và Dương Hồng Ân đã có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 01 lần tại nhà của Ân – tại ấp Hoà Lợi 1, xã Cần Đăng, tỉnh An Giang.

Hành vi của các bị cáo Bình và Ân đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra các bị cáo phải chăm chỉ lao động chân chính tạo ra của cải, vật chất để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình, là người công dân có ích cho xã hội. Nhưng các bị cáo lại vướng vào con đường nghiện ngập, các bị cáo biết ma tuý là chất gây nghiện, nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố ý tổ chức, hùn tiền, chuẩn bị công cụ, sử dụng địa điểm là nhà của bị cáo Ân để thoả mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hại đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người.

Đây là một vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo là ngang nhau khi cùng hùn tiền, cùng chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma tuý, sử dụng địa điểm là nhà của bị cáo Ân để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Mặt khác, các bị cáo đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” mà vẫn tiếp tục tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, cho thấy các bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật.

Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt là có căn cứ, phù hợp với hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn nhận tội, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải; thuộc thành phần nhân dân lao động nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Kết luận: 815/KL-KTHS ngày 10/10/2025), có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng Nam, Võ Văn Phong. Bên trong gồm có: 01 chai nhựa trong suốt, có nắp đậy mà đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 nỏ thuỷ tinh có đầu gù; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 quẹt gas bên trong có 02 hột xí ngầu là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với: 01 điện thoại OPPO A57, màu vàng, số IMEI 1: 869945064097674, số IMEI 2: 089945064097666, gắn sim di động số 0357.197.172 của bị cáo Bình là công cụ phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với: 01 điện thoại REDMI 10, màu đen; IMEI 1: 867208064033765, số IMEI 2: 087208064033773, gắn sim di động số 0379.383.474 của bị cáo Ân không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo Ân.

Các vấn đề khác:

- Đối với việc Nguyễn Thái Bình khai mua ma túy của Hồ Hữu Nghĩa nhiều lần để sử dụng. Ngày 10/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hồ Hữu Nghĩa, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để xử lý thành một vụ án riêng là phù hợp.

- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Dương Hồng Ân và Nguyễn Thái Bình cùng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Dương Hồng Ân 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái Bình 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2025.

3. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì màu trắng được niêm phong (Kết luận: 815/KL-KTHS ngày 10/10/2025), có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Hoàng Nam, Võ Văn Phong. Bên trong gồm có: 01 chai nhựa trong suốt, có nắp đậy mà đỏ gắn 01 ống hút nhựa màu vàng và 01 nỏ thuỷ tinh có đầu gù; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 quẹt gas bên trong có 02 hột xí ngầu;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại OPPO A57, màu vàng, số IMEI 1: 869945064097674, số IMEI 2: 089945064097666, gắn sim di động số 0357.197.172.

- Trả lại cho bị cáo Ân: 01 điện thoại REDMI 10, màu đen; IMEI 1: 867208064033765, số IMEI 2: 087208064033773, gắn sim di động số 0379.383.474.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2025)

4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Thái Bình, Dương Hồng Ân mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ