- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Văn L (L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ phần nào hình phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 14/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đạt
Ông Trương Công Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Cường- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Núi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn L (tên gọi khác: L Bà Đen)- sinh năm: 1984; Nơi sinh: Kiên Lương, Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 8, khu phố K, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn B, sinh năm 1953 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1956; Anh chị em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm: 1976, nhỏ nhất sinh năm 1990;
Tiền sự: Ngày 31/10/2010 bị Ủy ban nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đưa vào cơ sở chữ bệnh bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiền án:
+ Ngày 23/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự (Đã xóa án tích).
+ Ngày 17/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự (Chưa xóa án tích).
+ Ngày 20/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (Chưa xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ngô Thị Phương T (tên gọi khác: T), sinh năm 1988, có mặt.
Nơi cư trú: Tổ 19, khu phố K, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988, có đơn xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ 10, khu phố B, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
2/ Lê Đăng Q (Tên gọi khác: T), sinh năm 1988, có đơn xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ 6, khu phố B, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 25/10/2022 bị cáo L đi xung quanh khu phố K, thị trấn K để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà của chị Ngô Thị Phương T, sinh năm 1988; trú tại tổ 19, khu phố K, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; Bị cáo L phát hiện thấy chiếc xe đẩy bằng kim loại (Loại xe 03 bánh dùng để thu mua ve chai) đậu ở trước cửa nhà, nên bị cáo L đã lén lút trộm cắp chiếc xe trên đem bán cho anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1988; trú tại tổ 10, khu phố B, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang với giá 250.000đồng và tiêu xài hết số tiền nêu trên.
Đến chiều cùng ngày, Nguyễn Thanh T đã bán lại chiếc xe trên cho Lê Đăng Q, sinh năm 1988; trú tại tổ 6, khu phố B, thị trấn K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang với giá 300.000đồng. Khi biết được chiếc xe trên là tài sản trộm cắp mà có, Nguyễn Thanh T đã chuộc lại xe và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Kiên Lương.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiên Lương thu giữ:
- 01 (một) chiếc xe đẩy bằng kim loại (loại xe 03 bánh dùng để thu mua ve chai), chiều dài 2,5m, chiều ngang 0,8m, chiều cao 01m đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Kiên Lương xác định tài sản thu giữ là của chị Ngô Thị Phương T không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên đã trao trả cho chị T.
* Theo Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiên Lương kết luận:
- 01 (một) chiếc xe đẩy bằng kim loại (loại xe 03 bánh dùng để thu mua ve chai) đã qua sử dụng có giá trị là 1.230.000đồng.
Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKL ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Lý Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phân tích tính chất và mức độ của hành vi mà bị cáo gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lý Văn L từ 12 đến 18 tháng tù.
Về phần dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Kiên Lương đã trao trả các tài sản trên cho bị hại Ngô Thị Phương T. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang truy tố, đồng thời có thái độ thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Kiên Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Văn L khai nhận: Vào khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 25/10/2022 bị cáo L đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe đẩy bằng kim loại (loại xe 03 bánh dùng để thu mua ve chai) của bà Ngô Thị Phương T đang đậu ở trước cửa nhà đem đi tiêu thụ sau đó bị phát hiện bắt giữ. Theo kết luận định giá tài sản thì giá trị xe đẩy bằng kim loại (loại xe 03 bánh dùng để thu mua ve chai) có giá trị còn lại là 1.230.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở pháp luật để kết luận bị cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm theo quy định của điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi của bị cáo L thấy rằng: Bị cáo có đủ sức khỏe và khả năng lao động chân chính để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình và góp phần xây dựng xã hội. Sau khi chấp hành 03 bản án xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để sửa đổi, cải tạo bản thân trở thành người công dân có ích cho xã hội nhưng vì lười biếng lao động đến khi không có tiền tiêu xài thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác. Từ đó đã dẫn đến hành vi trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Mặt khác bị cáo là người chưa được xóa án tích, mới chấp hành xong hình phạt tù về tái hòa nhập cộng đồng nhưng lại tiếp tục vi phạm, nên cần có một hình phạt nghiêm khắc đủ thời gian để giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận và tỏ ra biết ăn năn hối cải; phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cần áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan cảnh sát điều tra thực hiện việc trao trả tài sản là phù hợp nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn L (L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/12/2022.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Lý Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Kiên Lương; - Cơ quan Điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự và Nhà tạm giữ Công an huyện Kiên Lương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương; - Bị cáo; Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Minh |